Frank Snepp: Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

Frank Snepp
Frank Snepp

Frank Snepp được đào tạo ở Đại học Columbia về Ngoại giao, và ban đầu là nhà báo cho truyền hình. Từ 1969 cho tới 1975, ông là nhân viên CIA ở Việt Nam. Ngày nay, ông sống ở California và viết kịch bản cho phim truyền hình và phim nhiều tập.       

Đầu năm 1975, người cộng sản dấn lên phía trước và cố gắng tìm điểm yếu trong hàng phòng thủ của Nam Việt Nam. Vì chúng tôi không can thiệp nên họ tiến lên ngày một mạnh hơn. Trong tháng Ba, họ khởi động một chiến dịch lớn. Và thời gian này, tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam cứ nhất định rút lực lượng của ông ra khỏi các vùng đất ở phía bắc Nam Việt Nam; ông lo sợ là các cố vấn chính trị của ông có kế hoạch ám sát ông, thế là ông rút một vài đơn vị chủ lực của ông từ mặt trận về gần Sài Gòn, để họ bảo vệ ông. Đó là một sai lầm nghiêm trọng, vì qua đó mà ông đã làm suy yếu hệ thống phòng thủ của ông chính ở nơi mà người cộng sản sẽ tấn công đầu tiên. Và rồi thì họ cũng làm đúng điều đó, chiếm Tây Ngyuên và vùng quanh Đà Nẵng và nhanh chóng dẫn nhiều lực lượng vào Nam Việt Nam. Họ tràn ngập đất nước, chia nó ra thành hai phần như người Việt Minh đã làm với người Pháp nhiều năm trước đó. Thời gian này, quân đội cộng sản quanh Đà Nẵng đã tiến quân mãnh liệt tới mức họ đẩy được các đơn vị Nam Việt Nam ra biển. Vào cuối tháng Ba, phân nửa quân đội Nam Việt Nam đã bị đánh bại và đang rút lui trong quy mô lớn.

Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Martin, không tin rằng người Nam Việt Nam đã bị đánh bại. Cho tới ngày hôm nay tôi vẫn còn nhìn thấy hình ảnh đó, tôi đi vào văn phòng của ông để báo cáo về tình hình; ông ở Hoa Kỳ trong những tuần vừa rồi và đã thông báo cho Quốc Hội biết rằng người Nam Việt Nam đánh đấm tốt cho tới đâu. Khi trở về, ông không bắt kịp được tình hình. Tôi nói: “Ngài đại sứ, tôi vừa trở về từ một chuyến bay qua vùng Đà Nẵng và Huế, và tôi phải nói với ông rằng quân đội Nam Việt Nam đang rút lui ra biển. Họ đang rút lui toàn bộ.” Ông trả lời: “Anh bạn của tôi, tôi không tin anh, tôi nghĩ là anh có thông tin sai đấy.” Tôi trả lời: “Ngài đại sứ, tôi đã nhìn thấy quân đội rút lui.” Nhưng ông không muốn tin điều đó. Đó là khởi đầu của thảm họa cuối cùng ở Việt Nam, rằng người đại sứ không thể nhận ra được là quân đội Nam Việt Nam đã bị cắt ra thành hai phần, và một nửa trong đó đã bị tiêu diệt cho tới tháng Ba 1973.

Bầu không khí trong đại sứ quán mang một ít tính phi thực; toàn bộ giới lãnh đạo cấp cao của Nam Việt Nam đã tan biến, không còn có quân đội nữa, hàng triệu người dân chạy trên những con đường quốc lộ về Sài Gòn để thoát khỏi người Bắc Việt đang tiến quân, và người đại sứ thông báo cho giới doanh nhân về viễn cảnh thương mại cho năm năm tới. Đó là ba tuần trước khi sụp đổ hoàn toàn.

Ông đại sứ thật sự có ý rằng ở Sài Gòn không cần phải di tản. Thế là một vài người trong số chúng tôi – nhân viên trẻ tuổi của đại sứ quán, sĩ quan CIA, nhân viên của Bộ Ngoại giao –, bắt đầu lén lút mang bạn bè người Việt ra nước ngoài trên những chiếc máy bay vận tải. Đó là một cầu hàng không ứng biến, bất hợp pháp, hai tuần trước khi kết thúc. Thông tin mà chúng tôi nhận được trong thời gian này từ các điệp viên tốt nhất của chúng tôi rất rõ ràng: người cộng sản muốn có mặt tại Sài Gòn cho tới lúc kỷ niệm ngày sinh của Hồ Chí Minh. Họ sẽ không để cho bất cứ điều gì ngăn chận họ lại – cũng không có thỏa thuận chính trị để người Mỹ có thể giữ được thể diện của họ và rút lui. Họ muốn Sài Gòn.

Tôi đã có thể gửi một bản tường trình với các thông tin này về Washington, qua cổng rác, như chúng tôi gọi nó. Đó là một kênh cho những tin tức mà không ai quan tâm thật sự tới chúng. Nhưng thông tin này được nắm lấy ở Washington và có tác động là quân đội Mỹ bắt đầu lập kế hoạch di tản sau lưng ông đại sứ.

Kế hoạch số lượng cho những nơi chúng tôi muốn thu thập người quanh Sài Gòn đã có từ lâu. Nhưng không ai có thể đoán trước việc gì sẽ đến khi hàng triệu người dân thường đổ xô vào Sài Gòn và 140.00 lính Bắc Việt xuất hiện tại nội thành chỉ trong vòng 20 phút, việc mà cuối cùng rồi cũng xảy ra. Toàn bộ quân đội cộng sản đã tiến quân về Sài Gòn; họ đứng ngay trước thành phố và mặc dù vậy ông đại sứ  vẫn từ chối không cho tiến hành di tản. Vào ngày chiến tranh cuối cùng, ngày 29 tháng Tư 1975, trong đại sứ quán thậm chí còn không có cả danh sách chính thức của những người Việt mà chúng tôi cần phải cứu họ. Cuối cùng thì cuộc di tản trở thành “mạnh ai nấy lo”. Những người thoát được nhờ vào sự giúp đỡ không chính thức là bạn gái, bạn nhậu, bạn thân từ quân đội, thế nào đi nữa thì cũng không phải là người Việt từ giới tình báo, những người phải lo sợ người cộng sản nhiều nhất.

Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock
Tháng Tư 1975, người di tản lên tàu Mỹ Hancock

Vài ngày trước đó, tôi nhận nhiệm vụ đưa tổng thống Thiệu đến nơi an toàn. Đó là một buổi tối thật không thể tin được. Tôi đi xe cùng với người sếp chi nhánh CIA ở Sài Gòn và ông đại sứ tới chỗ ông ấy. Thiệu ra khỏi nhà, ông mặc một bộ comlê màu xám, tóc được chảy ngược ra sau, ông trông giống như người mẫu cho bản phát hành ở Viễn Đông của một tờ tạp chí thời trang đàn ông, và ông ấy say rượu. Ông ngồi vào phía sau xe. Rồi một vài người phục dịch của ông ấy chạy ra từ bụi rậm; họ mang nhiều va li lớn, và tôi có thể nghe được tiếng kim loại đập vào kim loại: vàng, đó là vàng mà Thiệu cất giữ. Ông đã cho mang hầu hết sở hữu cá nhân của ông ra ngoài nước một tháng trước đó. Họ xếp vàng vào phía sau ô tô, rồi chúng tôi chạy ra căn cứ không quân. Tôi sợ là có ai đó cố giết chết Thiệu. Chúng tôi muốn mang ông ấy ra ngoài nước, vì ông đại sứ nghĩ rằng điều đó có thể tạo khả năng đàm phán với người cộng sản, Ông không nhận ra là những người đó hoàn toàn không quan tâm gì tới việc đó cả.

Tôi còn nhớ Thiệu đã khóc ở ghế sau khi chúng tôi tới đường băng đã được tắt đèn. Hết sức lộn xộn. Ông đại sứ hối thúc Thiệu, và khi người này bước ra khỏi xe, ông ấy còn nghiên về phía tôi thêm một lần nữa và nói cảm ơn. Tôi tự hỏi cảm ơn cho việc gì? Cho 55.000 người Mỹ đã chết ở đây ư? Nhưng tôi không nói gì hết, ông ấy đang hết sức buồn rầu. Khi ông ấy lên được máy bay, ông đại sứ Glenn Martin nắm lấy cái cầu thang và kéo nó đi khỏi, giống như ông ấy muốn giật hiện tại ra khỏi quá khứ vậy.

Người cộng sản không màng tới chuyến bỏ đi của Thiệu, họ muốn có một chiến thắng toàn phần, và vì vậy mà sau đêm đó cũng tiếp tục gây áp lực lên Sài Gòn. Tôi có một nỗi sợ kinh hoàng là chúng tôi không thể cứu thoát được các điệp viên làm việc cho tôi, đó là còn chưa nói tới những người Mỹ còn ở lại đây. Lúc đó, ông đại sứ để cho đài phát thanh Mỹ ở Sài Gòn loan đi chín thông báo. Các thông báo này nói rằng nói chung là không có vấn đề gì hết, rằng người ta cứ đặt mông ngồi xuống tại chỗ và đừng tự ý rời bỏ đất nước, không có tình trạng khủng hoảng. Đó là một bầu không khí không có thực; đất nước quanh chúng tôi tan rã và không ai muốn thừa nhận điều đó; chúng tôi ngồi ở Sài Gòn, vẫn còn đi tới câu lạc bộ thể thao hay bể bơi của đại sứ quán, nhấp môi uống rượu ngọt của chúng tôi cứ giống như là chúng tôi sẽ ở đó mãi mãi vậy.

Vào buổi sáng của ngày cuối cùng, tôi bị thổi ra khỏi giường ngủ khi người cộng sản khởi động trận tấn công cuối cùng của họ vào Sài Gòn và thật sự là bắt đầu bắn phá căn cứ không quân, như các điệp viên của chúng tôi đã báo trước. Tôi lồm cồm bò dậy và đi vào đại sứ quán, vào buổi sáng đó là phải xuyên qua hàng ngàn người Việt đang đi trên đường, mặc dù mới 4 giờ 45 hay 5 giờ sáng thôi. Tôi phải quát lính thủy quân lục chiến đứng gác để họ cho tôi vào, do người Việt đã bắt đầu lay các cánh cổng rồi. Đại sứ quán trở thành một hòn đảo, vì toàn bộ người dân trung thành của Nam Việt Nam đã quay quanh chúng tôi trong hy vọng là chúng tôi sẽ mang họ ra trong giờ phút cuối cùng. Chúng tôi không thể mang họ ra, vì không có kế hoạch di tản. Thế là chúng tôi bắt đầu lôi người qua tường đại sứ quán và gọi điện thoại cho người quen ngoài đại sứ quán.

Tôi còn nhớ, tôi ngồi trong phòng cố vấn của CIA ở trên tầng cao nhất, và lắng nghe những người làm việc cho chúng tôi đi tới và cầu khẩn cứu họ: “Tôi là Han, người thông dịch, xin ông đừng quên tôi.” – “Tôi là Nok, lính gác, tôi chờ ông tới đón tôi ở nơi đã thỏa thuận.” Khi càng lúc càng muộn dần và vẫn còn chưa có lệnh di tản, một vài người trong số chúng tôi mới gửi trực thăng CIA đi để đón người như đã thỏa thuận, để mang họ vào khu vực của đại sứ quán hay ra căn cứ không quân, hy vọng là chẳng bao lâu nữa sẽ có máy bay.

Có một phi công trực thăng đặc biệt, tên của anh ấy là Woodie Harnage, anh là phi công U-2 trong Chiến tranh Lạnh. Woodie là bạn của tôi, anh bay với một chiếc trực thăng CIA để đón người trong khắp thành phố; có một bức ảnh nổi tiếng của anh, ai cũng biết, đó là bức ảnh của Associated với người đàn ông đó ở trên mái nhà, đang cuối xuống và kéo người lên trực thăng bằng một cái cầu thang. Mái nhà đó là mái nhà của người sếp chi nhánh CIA ở Việt Nam, và người trên cầu thang là những người làm việc cho CIA, đang cố gắng tuyệt vọng chạy trốn ra khỏi nước, và người đàn ông đang cúi xuống đó chính là Woodie Harnage, cố gắng kéo càng nhiều người vào trực thăng càng tốt, mang vào đại sứ quán và thả họ xuống đó, để họ có thể chờ được di tản ở đó.

Trên mái nhà của số 22 đường Gia Long
Trên mái nhà của số 22 đường Gia Long

Vào thời điềm này, bây giờ đã là buổi sáng, cuối cùng ông đại sứ cũng chấp thuận cho trực thăng đáp xuống khu đất của đại sứ quán. Mãi tới trưa họ mới đến. Lúc này, chúng tôi nhận được thông tin là vào lúc 18 giờ cùng ngày, người cộng sản sẽ bắn phá đại sứ quán. Chúng tôi còn bốn giờ đồng hồ. Tôi mặc áo chống đạn vào và cầm lấy súng. Vào buổi sáng, người ta đã nói với tôi là tôi thuộc trong số 50 người của CIA và sứ quán sẽ ở lại. Nhưng khi chúng tôi nhận được tin sắp bị bắn phá thì Kissinger quyết định tất cả chúng tôi phải rời thành phố.

Vào buổi chiều ngày hôm đó, tôi biết là nhiều bạn bè người Việt của chúng tôi đã chờ được đón đi trong khách sạn “Duc”. Sau đó, tôi mới biết là nhân viên CIA có nhiệm vụ tổ chức di tản họ đã giật lấy chiếc trực thăng trên mái nhà và đã để họ ở lại. Sau khi chúng tôi đi khỏi, người cộng sản tới và đã giết chết hết họ.

Cuộc di tản của chính tôi là một trải nghiệm đáng sợ, tôi kiệt sức cho tới mức hầu như không biết đã xảy ra chuyện gì. Vào lúc 21 giờ, đại sứ quán đã biến thành một mê cung hổn loạn. Hàng trăm người Việt đang chờ để được mang lên nơi đỗ trực thăng ở trên mái nhà. Vài người trong số họ kẹp túi đồ đạc trong tay, những người khác có vũ khí; tất cả chúng tôi đều trang bị vũ khí cho đến tận răng. Không có nước, máy điều hòa đã tắt, thang máy hỏng; ở dưới cạnh các bức tường, lính thủy quân lục chiến chỉ kéo vào trong những người Việt Nam có thể tiến tới đủ gần, và qua đó đã tách rời nhiều gia đình. Tôi còn nhớ tới một cảnh người mẹ được kéo lên tường nhưng người lính gác không với tới đứa con của bà ta được.

Viên sếp CIA ở Sài Gòn tới gặp tôi vào lúc khoảng 21 giờ và nói : “Frank, anh phải di tản với 17 sĩ quan cuối cùng. Đã đến lúc phải đi, Nhà Trắng đã ra lệnh triệu hồi anh.” Thế là tôi cùng với những người kia bắt đầu đi, dọc theo hành lang cho tới cầu thang lên mái nhà. Khi lính gác thấy chúng tôi, họ đẩy những người Việt đang chờ sang một bên. Tôi không thể nhìn vào mắt họ. Đó là khoảnh khắc tệ hại nhất trong đời tôi. Tôi nhận ra rằng mình đã trở thành một phần của một bức tranh méo mó, một bức tranh méo mó của danh dự Mỹ.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”

Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Advertisements

4 thoughts on “Frank Snepp: Những ngày cuối cùng của Sài Gòn

  1. Tôi đề nghị ông nên tìm hiểu, nghiên cứu các chính sách của Liên bang Xô Viết, của Cộng sản Trung Hoa trong chiến tranh Việt nam, hơn là các chính sách của Mỹ. Các tài liệu này đã có sẵn trong các Thư viện, sách bán, Internet. Ông ở nước ngoài (đăc biệt ở Đức, có điều kiện vào các văn khố Nga, các nước). Giao su Dai Hoc.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s