Frank Snap: Là điệp viên CIA ở Việt Nam

Frank Snap
Frank Snap

Frank Snap được đào tạo ở Đại học Columbia về Ngoại giao, và ban đầu là nhà báo cho truyền hình. Từ 1969 cho tới 1975, ông là nhân viên CIA ở Việt Nam. Ngày nay, ông sống ở California và viết kịch bản cho phim truyền hình và phim nhiều tập.       

Tôi được giáo dục theo lối thủ cựu và hoàn toàn tin tưởng rằng hoạt động tham chiến của chúng tôi ở Việt Nam là cần thiết. Ngoài ra thì nói chung là tôi hoàn toàn không có hình dung nào về chiến tranh, tôi chỉ biết tôi không muốn là một người lính thường. Giáo sư đại học của tôi đề nghị tôi làm điệp viên, như thế thì tôi không phải sang Việt Nam. Tôi nghĩ ý tưởng đó thật là hay. Tôi có thể nói gì nữa, sáu tháng sau đó, tôi được đào tạo và được gởi tới chính nơi đó, ở Sài Gòn năm năm trời. Tôi là nhân viên hỏi cung, là nhà phân tích, là nhân viên tuyên truyền và cuối cùng là sếp chiến lược CIA.

Sự phát triển là như thế này: Năm 1969, đại sứ quán ở Sài Gòn có chỗ cho khoảng 1000 nhân viên, và CIA làm mọi cách để người Mỹ nhận được những việc làm đó. Ai họ cũng nhận, và vì vậy mà họ cũng nhận tôi, Tôi hoàn toàn không biết gì về đất nước này, không biết nói tiếng Việt, hầu như không biết Việt Nam nằm ở đâu. Nhiều người cũng giống như tôi. Tuy vậy, tôi biết nói tiếng Pháp, và điều đó rất quan trọng ở vùng này. Để chuẩn bị tôi cho Việt Nam, họ gởi tôi đi đào tạo bán quân sự ở một cơ sở của CIA. Ngoài những điều khác, người ta dạy chúng tôi tiến hành các hoạt động gián điệp. Thế nhưng tất cả những gì mà chúng tôi học được ở đó đều có định hướng cho châu Âu, không hướng sang Việt Nam.

Khi tôi sang Việt Nam năm 1969, phong trào chống chiến tranh đang dâng cao. Chính phủ Nixon tìm lối thoát ra khỏi sự phê phán ngày một tăng đó, và vì vậy mà chính sách Việt Nam hóa thành hình. Đó là tình hình khi tôi tới Việt Nam: “Việt Nam hóa” chiến tranh vừa mới bắt đầu, những cuộc phản đối chống chiến tranh ở Hoa Kỳ lên tới đỉnh cao của chúng, nhưng không có liên quan tới chúng tôi, vì chúng tôi không bao giờ nhận được tin tức từ quê nhà. Tôi còn không biết rằng Jane Fonda đã đóng một vai trò quan trọng trong đó. Chúng tôi bị cô lập ở Sài Gòn, trong thế giới nhỏ của chúng tôi – đại sứ quán –, tiến trình chính trị ở Hoa Kỳ không chạm đến chúng tôi.

Năm 1969, Sài Gòn là một thiên đàng cho điệp viên. Ở đó có nhân viên mật vụ của nhiều nước. Ví dụ như tôi có một cô bạn gái làm việc cho mật vụ Pháp và cung cấp thông tin cho tôi. Đó là một thời kỳ lý thú. Sài Gòn giống như một thành phố ờ Miền Tây Hoang Dã; lựu đạn trên đường phó, bắn nhau ở ngoại thành. Nghe có vẻ kỳ lạ, nhưng Sài Gòn rất đẹp. Tất cả nhân viên sứ quán gặp nhau trong câu lạc bộ thể thao vào giờ nghỉ trưa. Ở đó, người ta gặp các điệp viên khác và có thể trao đổi với các viên tướng Nam Việt, cũng có thể chơi quần vợt với họ. Người ta gặp nhà báo Mỹ, trao đổi bí mật với họ và cố tạo ảnh hưởng lên ý kiến của họ. Nếu là một điệp viên có nhiệt tình cho nghề nghiệp thì Sài Gòn là nơi làm việc đúng nhất. Nó hấp dẫn, nó là thế giới của Hemingways. Người ta có thể bay máy bay ra chiến trường và lại trở về uống cocktail vào lúc 17 giờ.

Mặt khác, chẳng bao lâu sau đó tôi nhận ra rằng xã hội Việt Nam đã bị phân tách ra như thế nào. Người Công giáo thống trị chính trị. Thế nhưng phần lớn người dân lại là người theo Phật giáo. Vì vậy mà luôn có sự thù địch giữa hai nhóm này. Ngay từ đầu, Hoa Kỳ đã nghiên về phía người Công giáo và nghi ngại người Phật giáo. Qua đó, chúng tôi vô tình thúc đẩy sự chia rẽ của xã hội.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng không hiểu thấu sự việc để mang các nguyên tố cốt lõi của chính trị Nam Việt Nam lại với nhau, làm cho chúng chuyển động theo cùng một chiều. Chúng tôi cũng không hiểu rằng ví dụ như người Nam Việt ở vùng Huế hết sức khác với người Nam Việt ở vùng châu thổ, rằng những người này thật sự nghĩ rằng người dân ở Huế là kẻ thù của họ.

Giới lãnh đạo quân sự Mỹ chưa từng bao giờ thấu hiều điều đó, cả và đặc biệt là các khác biệt giữa người Bắc Việt Và Nam Việt. Người từ miền Bắc hoàn toàn khác hẳn. Họ có vẻ ngoài khác, tiếp cận đến với công việc khác, có kỷ luật nhiều hơn, giống dân Phổ rất nhiều trong cách hoạt động của họ. Chúng tôi đã có thể chuẩn bị tốt hơn cho kết cuộc khi chúng tôi biết rằng người Nam Việt thật sự là không có khả năng tiến hành chiến tranh một mình.

Nhưng thôi bây giờ nói về công việc làm của riêng tôi: khi là nhân viên hỏi cung, tôi có hai trách nhiệm hết sức khác nhau – thứ nhất là tôi phải ra chiến trường và hỏi cung những người lính của phe địch vừa mới bị bắt; thứ nhì, tôi chịu trách nhiệm cho các tù nhân đang ngồi trong sở cảnh sát thành phố ở Sài Gòn. Đó thường là các sĩ quan cộng sản cao cấp. Người cao cấp nhất là phó sếp mật vụ cộng sản. Ông ấy đã ngồi hai năm trong tù, trong một phòng giam trắng như tuyết, được chỉnh nhiệt độ thật lạnh, vì chúng tôi biết rằng người Việt Cộng trong lúc huấn luyện không được làm quen với máy điều hòa nhiệt độ. Chúng tôi dùng cách tra tấn tâm lý để bẻ gãy ý chí của ông ấy. Vì vậy mà tôi cũng được gọi tới, vì tôi còn rất trẻ, là một điều xúc phạm ông ấy, để ông ấy mất tự chủ.

Người tù là một trong số những người có sức thu hút nhất và có kỷ luật nhất mà tôi từng quen biết. Ông ấy ngồi lạnh run trong phòng giam của ông, không bao giờ nhìn thấy ánh sáng ban ngày, vì phòng không có cửa sổ. Mặc dù vậy, đồng hồ nội tâm của ông vẫn đánh thức ông dậy vào đúng sáu giờ mỗi buổi sáng. Để làm cho ông ấy rối loạn, tôi để cho người ta dọn cho ông ăn sáng vào lúc 20 giờ và ăn tối vào lúc 7 giờ. Nhưng ông cũng đứng vững trước cả áp lực tâm lý này. Rồi tôi nói chuyện phiếm với ông về nhà thơ người Pháp Mallarmé, người mà ông thông hiểu hơn tôi rất nhiều. Cuối cùng, tôi tấn công trực tiếp ông với lời khẳng định, ông đã lừa dối cha ông vì sự nghiệp chính trị của chính mình – một sự xúc phạm rất nặng đối với người Việt có nhận thức gia đình sâu sắc. Thế là cuối cùng ông ấy cũng mất tự chủ, tức điên lên và bất thình lình hét lớn ra những sự kiện và sự thật.

Người đàn ông gây nhiều ấn tượng đó vẫn ở tù cho tới khi chiến tranh chấm dứt, mặc dù có trao đổi tù binh được thỏa thuận trong hiệp định ngưng bắn 1973. Năm 1975 – tôi không biết tại sao – ông bị người Nam Việt lôi lên máy bay và ném xuống biển Đông từ độ cao khoảng 1500 mét.

Tại lần hỏi cung này và những lần hỏi cung khác, chúng tôi biết rằng người cộng sản mất và phải bổ sung mỗi năm tròn 60.000 người lính. Thật không thể tưởng tượng được, bao nhiêu người chết như vậy. Chúng tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu như chúng tôi để cho không quân phá hủy tất cả những con đê bảo vệ ruộng lúa. Chúng tôi dự tính với trên hai triệu người chết. Nhưng Lầu Năm Góc chống lại việc này, vì vậy mà chiến dịch đó chưa từng bao giờ được khởi động.

Hè 1972: quân lính Nam Việt Nam đang chờ trực thăng Mỹ chở ra chiến trường
Hè 1972: quân lính Nam Việt Nam đang chờ trực thăng Mỹ chở ra chiến trường

Chúng tôi cũng có nguồn thông tin từ ở phía bên kia của chiến tuyến, ví dụ như một điệp viên hoạt động trong giới chỉ huy của cộng sản. Anh ta đã có thể mang ra nhiều tin tức có giá trị rất cao. Có thể là không có cuộc chiến nào trong lịch sử mà lại được điều tra tốt như cuộc chiến này, vì chúng tôi có thể nhìn thấy trước mỗi một bước đi của người cộng sản. Vấn đề thật ra là chúng tôi không muốn tin vào những điều nào đó. Ví dụ như chúng tôi phát hiện rằng người cộng sản sẽ bắt đầu đợt tấn công lớn của họ trong năm 1972. Nhưng làm sao mà có thể được, họ vẫn còn quá yếu. Vì vậy mà chúng tôi tin rằng đó là một thông báo sai, và không tin vào thông tin này. Trước đó, chúng tôi cũng biết rằng người cộng sản có kế hoạch cho một đợt tấn công lớn năm 1968, nhưng lại có bất đồng giữa người Nam Việt và người Mỹ về mục tiêu tấn công. Chúng tôi tranh cãi nhau, liệu họ có tấn công các thành phố lớn ở miền Nam hay không. Chúng tôi nghĩ rằng họ đơn giản là không có khả năng chiếm các thành phố, và vì vậy mà chúng tôi đã không chuẩn bị đầy đủ. Ở điểm này thì chúng tôi đánh giá quá thấp người cộng sản và vì vậy mà đã lâm vào một tình thế hết sức khó khăn.

Trong liên quan với đợt tấn công dịp Tết Mậu Thân, tôi muốn nói tới một giai đoạn phát triển khác của năm 1968: “Chiến dịch Phượng Hoàng”. Nó thành hình để phá vỡ cấu trúc cộng sản trong miền Nam, tiêu diệt điệp viên và những người giật dây. Các đơn vị dưới sự kiểm soát của Mỹ, dưới sự kiểm soát của CIA, đi về vùng nông thôn và bắt các cán bộ chính trị, mang họ về để hỏi cung. Nhưng vấn đề là ở Nam Việt Nam không có một hệ thống luật pháp quy định phải tiếp tục hành xử như thế nào. Những tù nhân đó ngồi không trong phòng giam của họ, và rồi cuối cùng thì người Nam Việt quyết định giết chết họ. CIA biết điều đó và im lặng chấp nhận. Mãi với thời gian, tôi muốn nói là 1969/70, thì rồi dần dần tôi mới nhận ra rằng chúng tôi giết chết nhiều người cộng sản hơn là có thể có, nói cách khác, chúng tôi giết những người vô tội. Tôi báo cáo điều đó lên trên và đơn giản là bị phớt lờ. Đối với chúng tôi ở Sài Gòn thì có thể nhận rõ rằng “Chiến dịch Phượng Hoàng”, chương trình chống khủng bố, đã hoạt động độc lập và giết chết nhiều người chỉ có liên quan xa tới người cộng sản.

Thêm một lời về vai trò truyền thông: khi tôi tới Việt Nam năm 1969, trong giới chính thức có một sự thù địch đáng sợ đối với báo chí, vì người ta cho rằng các tác động của đợt tấn công Tết Mậu Thân đã được trình bày một cách cường điệu hóa. Vì vậy mà đại sứ quán chúng tôi bắt đầu thao túng giới truyền thông. Tôi luôn là một phần của biện pháp, được gởi ra để thông tin cho nhà báo; tôi nhận lệnh hành quân của tôi từ đại sứ và từ sếp CIA tại chỗ.

Tôi phân phát cái mà chúng tôi gọi là “quả hạnh nhân độc”: tôi đưa cho các đại diện báo chí một phần sự thật và thêm vào đó là thật nhiều những lời nói dối. Ví dụ như tôi kể rằng người cộng sản đã mất 60.000 người trong vòng sáu tháng vừa rồi; điều mà tôi không kể ra là họ cũng đưa vào 60.000 người mới, tức là đã thay thế được con số tổn thất. Rồi các nhà báo chạy đi, và nghĩ rằng người cộng sản đang ở trong tình thế hết sức khó khăn. Và đó chính là thông điệp mà chúng tôi muốn gửi đi.

Chúng tôi đã cố đánh lừa giới báo chí trong quy mô lớn. Điều này kéo dài cho tới năm 1975. Một trong những nhiệm vụ chính của tôi là cung cấp thông tin hậu trường và đưa cho họ những thông tin bí mật, để cho họ tin rằng chúng tôi chiến thắng, rằng Quốc Hội cần phải tiếp tục duy trì sự giúp đỡ cho Nam Việt Nam, và Nam Việt Nam đáng để được tiếp tục giúp đỡ. Nhưng điều mà chúng tôi không nói là tình hình an ninh ở Nam Việt Nam là một thảm họa. Người cộng sản có mặt ở khắp nơi trong vùng nông thôn. Chúng tôi cũng không bao giờ nhắc tới, rằng tham nhũng trong giới chính trị Nam Việt Nam và trong quân đội tăng không kìm hãm. Chúng tôi không kể cho họ những điều đó. Tất nhiên là họ phỏng đoán những điều đó, nhưng tình trạng của các nhà báo ở Nam Việt Nam là họ phải dựa rất nhiều vào những nguồn chính thức, vào những người như tôi; vì nhận được thông tin từ nơi nào khác là rất khó khăn. Thế là họ đi vào đại sứ quán, và chúng tôi tiếp đãi họ, đi ăn với họ, hút thuốc với họ, nói về bóng bầu dục và bóng chày. Và rồi dần dần thì họ tin chúng tôi và rồi cũng chấp nhận cả những “quả hạnh nhân độc”. Chiến tranh được buôn lại cho báo chí như thế đó.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”

Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Đọc thêm về ông Nguyễn Tài: https://www.cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/csi-studies/studies/vol48no1/article06.html

Advertisements

4 thoughts on “Frank Snap: Là điệp viên CIA ở Việt Nam

  1. Điệp viên Mỹ ờ miền Nam VN.là thường và bất thường là có nhiều điệp viên các nước
    thuộc phe CS.như Liên Xô (cũ),Tàu cộng v.v.hay miền Bắc CS.tức CHXHCNVN.
    Frank Snepp hay Frank Snap ? Theo như tôi biết thì chỉ có Frank Snepp là kẻ từng làm
    trưởng ban CIA.ở S/Gòn.Chính ông này tiết lộ những ký giả như David Haberstam,Neil
    Sheehan,Malcolm Browne v.v.từng được CIA.thuê viết bài “tuyên truyền chính nghĩa”
    trước khi Mỹ quyết định lật đổ cố TT.NĐD.vào tháng 11 năm 1963.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s