Peter Rodman: Chính sách của Nixon và Hiệp định Paris

Peter Rodman từ 1969 là nhân viên của Hội đồng An ninh Quốc gia và là trợ tá của Henry Kissinger.     

Tháng Giêng 1969, Richard Nixon tiếp nhận cuộc Chiến tranh Việt Nam từ người tiền nhiệm. Vào ngày ông nhậm chức có 500.000 người lính ở Việt Nam, và con số của họ tiếp tục tăng lên. Không có kế hoạch mang họ trở về như thế nào, các cuộc đàm phán vừa mới bắt đầu. Nixon đứng trước một đống đổ nát. Mục đích quan trọng nhất của ông là giải phóng nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh này và đồng thời cố gắng ấn định những đường lối cơ bản cho một chính sách đối ngoại mới của Hoa Kỳ. Ông không có ý định đầu hàng. Dường như là có một sự đồng thuận khắp nước cho một loại thỏa hiệp trong danh dự nào đó. Chúng tôi gọi nó là “chiến tranh vì danh dự”, một cuộc rút quân từng bước. Điều quan trọng đối với Nixon là chúng tôi đóng chương Việt Nam lại với một hành động chính trị, không phải với một sự sụp đổ. Thế là ông cũng hành động như vậy, và có được sự hậu thuẫn trong nước cho chính sách Việt Nam của ông hầu như suốt cả nhiệm kỳ.

Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân
Tổng thống Nixon tuyên bố rút quân

Thật sự thì chúng tôi đã bắt đầu rút quân ngay từ những tháng đầu tiên. Nhưng lịch trình được ấn định rất dài. Ngoài ra, chính sách của Nixon không loại bỏ những hành động quân sự nhất định có nhiệm vụ bảo đảm cho các vị trí của Nam Việt Nam, càng vững chắc càng tốt. Thuộc vào trong đó là cố gắng cực kỳ lớn để đánh bại đợt tấn công Phục Sinh [1972] của Bắc Việt. Câu trả lời của Nixon vào đầu tháng Năm là ném bom Bắc Việt Nam, thả mìn phong tỏa các cảng của Hà Nội và Hải Phòng. Đó thật sự là một trong những bước leo thang lớn nhất của cuộc chiến.

Bây giờ, trên kế hoạch là chuyến đi thăm Moscow của Nixon vào hai tuần tới. Tinh thần trong Nhà Trắng rất căng thẳng; do chúng tôi lo ngại Breshnew sẽ hủy bỏ cuộc gặp gỡ vì muốn tỏ tình đoàn kết với Hà Nội. Nhưng trong vòng hai ngày thì người ta biết rõ rằng người Xô Viết hoàn toàn không có ý định đó. Có nhiều điều mà họ muốn bàn thảo với Nixon. Họ lo lắng về tình hình ở Đức, họ e ngại leo thang cuộc Chiến tranh lạnh sẽ có ảnh hưởng không tốt tới chính sách Đông Đức của [Thủ tướng Tây Đức] Willy Brandt. Dù trong bất cứ trường hợp nào, người Nga cũng không muốn hy sinh lợi ích của họ tại một cuộc gặp thượng đỉnh cho một đồng minh nhỏ bé cách xa nhiều ngàn dặm. Khi người Xô Viết quyết định tiến hành cuộc gặp gỡ thì đó thật là một sự sỉ nhục cho Hà Nội.

Quyết định của người Nga cũng hậu thuẫn cho Nixon trong đối nội. Các nhà phê phán tự do và phe đứng sau George McGovern đã sẵn sàng lao vào Nixon. Thế nhưng với cuộc gặp gỡ ở Moscow, Nixon đã thắng hoàn toàn, và phe cánh tả quanh McGovern đứng thật ngớ ngẩn ở đó. Nixon đã đi dây thành công trong việc đẩy mạnh cuộc chiến ở Việt Nam và đồng thời vẫn trung thành với chính sách Daiton của mình với lần gặp gỡ ở Moscow và Bắc Kinh. Đó là một nước cờ ngoại giao xuất sắc. Nixon đã tăng cường cuộc chiến ở Việt Nam, và phe đối lập cánh tả đã mất vai trò của họ vì người Nga đã phản bội. Điều này đã góp phần quyết định cho thất bại của McGovern trong lần tranh cử tổng thống năm 1972, vì nó khiến cho người ta không thể dùng Việt Nam như là một đề tài tranh cử được nữa.

Đường lối Đông Dương của Nixon không bao giờ là một đường lối đầu hàng, nó cần phải trao cho người Nam Việt cơ hội càng lớn càng tốt để sống còn và cho người Bắc Việt sự hấp dẫn tối đa cho thỏa hiệp. Thế nhưng yêu cầu của Bắc Việt Nam tại các đàm phán hòa bình ở Paris chỉ nhắm tới một lần đầu hàng được che đậy mỏng manh của Mỹ. Lời đề nghị của họ trông giống như họ ủng hộ một chính phủ liên hiệp, nhưng trên thực tế thì nó có nghĩa là chúng tôi phải “chặt đầu” giới lãnh đạo Nam Việt. Rồi giới lãnh đạo không có quyền lực đó cần phải đàm phán với Việt Cộng. Và kết quả sẽ là một hình thức liên hiệp với cơ cấu quyền lực cộng sản. Người Bắc Việt không rời khỏi mô hình này nhiều năm trời. Họ không bao giờ tỏ ra muốn thỏa hiệp. Sự mỉa mai ở đây là người Bắc Việt cũng không muốn cho phép người Mỹ trở về nhà trước khi một hiệp ước được ký kết. Chúng tôi đề nghị rút quân, một cuộc rút quân hoàn toàn công khai của Mỹ, để lại cho các phe phái Nam Việt Nam tìm giải pháp cho các câu hỏi chính trị. Người Bắc Việt từ chối đề nghị này. Họ nhất định muốn chính chúng tôi phải tước quyền lực chính phủ Nam Việt Nam để rồi trao quyền lực vào tay họ. Chúng tôi cảm thấy điều đó hết sức mất danh dự.

Thế nhưng người Bắc Việt không rời bỏ yêu cầu của họ – cho tới tháng Mười năm 1972, khi rồi họ cũng chấp nhận dự thảo của Nixon. Dự thảo này đồng nghĩa với một cuộc rút quân hoàn toàn của Mỹ. Nó dự định có trao đổi tù binh và để cho người Việt giải quyết các câu hỏi về chính trị. Nhưng tất nhiên là nó vẫn để cho chính phủ Nam Việt Nam nguyên vẹn. Đó là thỏa hiệp chính trị mang tính quyết định. Và chỉ vì vậy mà các cuộc đàm phán sau bốn năm bây giờ cuối cùng cũng có kết quả.

Bên cạnh những cuộc đàm phán hoà bình công khai tất nhiên là cũng có những cuộc trao đổi bí mật giữa Bắc Việt Nam và chúng tôi. Nhưng mỗi một bước mà chúng tôi tiến hành trong những lần bàn thảo này đều được thỏa thuận trước với chính phủ Nam Việt Nam. Chúng tôi đưa cho họ xem mỗi một đề nghị trước khi chúng tôi đưa chúng ra, và tường thuật về mỗi một phiên họp. Mỗi một đề nghị mà chúng tôi đưa ra trong những lần trao đổi bí mật này là một lời đề nghị chung với người Nam Việt.

Ký kết Hiệp định Paris 1973
Ký kết Hiệp định Paris 1973

Khi hiệp định hòa bình về cơ bản là đã được thỏa thuận trong các cuộc hội đàm bí mật, chúng tôi ngưng ném bom miền Bắc trong tháng Mười 1972. Thế nhưng những cuộc trao đổi lại bị hủy bỏ vào đầu tháng Mười Hai, chủ yếu là vì người Bắc Việt bất thình lình lại có một lý do nào đó. Đó là tuần thứ hai của tháng Mười Hai, khi tôi với Kissinger ở Paris mười ngày. Trong thời gian đầu, tất cả mọi việc đều tiến triển tốt đẹp, chúng tôi giải quyết phần lớn những câu hỏi còn lại, nên chỉ tồn đọng một vài câu hỏi, mà lại không phải là những câu hỏi quan trọng nữa. Nhưng bất thình lình người Bắc Việt nhận được chỉ thị từ Hà Nội. Điều đó làm thay đổi tất cả. Bây giờ họ lại bắt đầu đưa ra những câu hỏi mà chúng tôi vừa mới giải quyết xong, và điều này kéo dài gần cả một tuần. Không thể không nhận ra rằng người Bắc Việt bất chợt quyết định ngăn chận một hiệp định. Các cuộc đàm phán đạt tới một điểm chết.

Chúng tôi trở về từ Paris và đưa ra một ý kiến giải thích lý do cho việc ngưng đàm phán. Chúng tôi tố cáo người Bắc Việt, rằng họ đã phá hoại việc ký kết một hiệp ước. Các quả bom vào cuối tháng Mười Hai là một hậu quả của việc này. Và với những chuyến bay ném bom, chúng tôi làm rõ rằng người Bắc Việt phải quay trở lại bàn đàm phán. Nói cách khác: những quả bom đó không có nghĩa là chúng tôi muốn tiếp tục cuộc chiến, chúng là một tín hiệu, rằng chúng tôi nhất định muốn chấm dứt đàm phán. Đó là ý nghĩa của “đợt ném bom Giáng Sinh”.

Lần ký kết hiệp định trong tháng Giêng 1973 gây nhiều xúc cảm. Sau đó, chúng tôi đi ra ngoài trời, trên đường phố Paris, và đứng để cho chụp ảnh. Đó thật là một cảm giác tuyệt vời, chúng tôi đã làm được một việc gì đó cho đất nước của chúng tôi, chúng tôi đã mang trọng lượng nặng hàng tấn đó trên vai của chúng tôi. Cuối cùng thì bây giờ chúng tôi cũng có thể làm lành những vết thương ở Mỹ và cả những vết thương mà cuộc chiến ở Đông Dương đã để lại. Hoa Kỳ là một đất nước mà nhiều quốc gia khác tin tưởng. Chúng tôi không thể bỏ mặc những đồng minh đã trở nên không dễ chịu. Tính đáng tin của Mỹ lâm nguy. Chúng tôi phải nhanh chóng từ giã đống gạch vụn này, nhưng chúng tôi phải làm việc đó bằng một cách danh dự. Và lúc đó, chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi bây giờ đã thành công, nhưng đáng tiếc là vài năm sau đó nó hiện ra là một sai lầm, thế nhưng chúng tôi không thể thấy trước điều đó.

Rồi cuối tháng Tư năm 1975, người Bắc Việt tiến quân vào Sài Gòn. Vào ngày đó tôi ở trong Nhà Trắng và cảm nhận không chỉ là một sự sỉ nhục to lớn, mà cũng là một thảm họa đạo đức cho Hiệp Chúng Quốc Hoa kỳ, cho toàn bộ thế giới tự do và tất nhiên là cũng cho người dân ở Đông Dương, những người phải trả giá cho điều đó. Cái giá mà chúng tôi đã trả là đã mất đi tính đáng tin cậy. Tôi nghĩ rằng chúng tôi có cơ hội để có được một kết quả tốt hơn, và chúng tôi đã lãng phí nó với những cuộc cãi nhau trong đất nước của chúng tôi.

Phan Ba trích dịch từ “Apokalypse Vietnam”

Đọc những bài phỏng vấn khác ở trang Chiến tranh Đông Dương

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s