Mổ xẻ một chiến thắng (hết)

Sau Hiệp định, hơn 1 triệu người đã di cư vào miền Nam
Sau Hiệp định, hơn 1 triệu người đã di cư vào miền Nam

Sau câu chuyện này, một người Việt già, gầy gò kéo tôi sang một bên, một trong những người tháp tùng của chúng tôi trong tỉnh này. Cho tới lúc đó, tôi đã nhìn ông ấy như là một người của an ninh, lúc nào cũng phải có tại một chuyến đi xuyên qua Việt Nam. Bằng tiếng Pháp trôi chảy, ông bắt đầu kể lại rằng ông đã là bộ đội từ năm 1954, trong cuộc chiến chống người Pháp, rằng năm 1954 ông cũng như tất cả các du kích Việt Minh khác phải đi ra miền Bắc, vì Hiệp định Genève quy định như vậy, và vợ ông đã ở lại đây. “Chúng tôi nghĩ rằng trong một hai năm tới Việt Nam sẽ thống nhất, và rồi tôi sẽ trở về.”

Từ hai năm trở thành 21. Viết thư trực tiếp cho vợ ông từ Hà Nội là điều ông không thể làm, điều đó quá nguy hiểm cho bà, chỉ có thể qua người họ hàng ở Paris. Sau này, ông rời Bắc Việt Nam và trở thành nhân viên ngoại giao của Việt Cộng ở Algeria. Mãi khi cuộc chiến chấm dứt năm 1975 và ông quay trở về, vợ ông mới thuật lại cho ông rằng cả hai người con trai đã phục vụ cho phía bên kia, trong không quân của quân đội Thiệu. Ông lo liệu để cho họ không phải đi vào một trại cải tạo như các sĩ quan khác; ông nhận trách nhiệm “tự thuyết phục họ”. Rồi sau nửa năm, ông phải đích thân mình gởi một người con trai vào một trại: người này nghiện ma túy.

Vợ ông qua đời không lâu sau ngày thống nhất; bốn anh chị em của ông đã hy sinh trong chiến tranh; hai người em gái cuối cùng mới đây đã làm đơn xin định cư ở nước ngoài. “Họ đã quá quen với lối sống Mỹ”, ông nói xin lỗi. Bản thân ông đã ở Cộng hòa Dân chủ Đức vài tháng trước đó, để điều trị loét bao tử.

Các cựu chiến binh Việt Cộng, những con người chiến đấu tuyệt vời của thời trước, bây giờ là những ông lão kiệt sức trong tuổi 40, 50 hay 60, một thế hệ kiệt quệ, đau ốm. Hầu như không người nào mà không bị sốt rét, xơ gan hay loét bao tử. Mười hay thậm chí hai mươi năm sống trong rừng, trong sự sợ hãi và dưới những cái hang trong lòng đất đã hủy hoại sức khỏe của họ. Ba người nói chuyện với tôi trong chuyến đi này đã yêu cầu được phép trao đổi ngắn, vì họ lại lên cơn sốt; những người khác, đã dự định, nói chung là không trao đổi được, vì họ nằm trong bệnh viện.

Không chỉ các chiến binh, cả con cái của họ cũng là nạn nhân của chiến tranh. Cái nặng nề nhất mà tôi nhìn thấy là một gian phòng bệnh nhân lớn, đầy những người phụ nữ trẻ tuổi, đau khổ. Với niềm hy vọng đang mang thai, họ đã được gởi tới đây; bây giờ họ phải đối phó với niềm tuyệt vọng, mắc ung thư tử cung. Từ cái trứng được thụ tinh, không có đứa bé nào phát triển mà là một khối u – hậu quả muộn của việc phun lên rừng chất độc làm rụng lá chứa dioxine, “Agent Orange”.

Cho tới 1971, những chiếc máy bay đặc biệt kiểu C-123 đã phun lên tròn 40 phần trăm diện tích rừng Việt Nam, để lấy đi cái mái nhà che chở cho Việt Cộng.

Về giai đoạn cuối của cuộc Chiến tranh Việt Nam, từ các thành viên quân đội trao đổi với tôi, tôi biết được nhiều chi tiết mà cho tới chừng đó còn chưa có trong các diễn tả của Phương Tây. Ví dụ như câu chuyện về những chiếc tên lửa SAM-2. Trong tháng Ba 1972, Mặt trận Giải phóng đã khởi động một chiến dịch với mục tiêu gây áp lực lên nước Mỹ tại những cuộc đàm phán kéo dài ở Paris. Tổng thống Nixon, người từ 1969 đã từng bước  giảm bớt con số các sư đoàn Mỹ và dựa vào một “Việt Nam hóa” của cuộc chiến, trả lời bằng một chiến dịch ném bom Bắc Việt nam, cái đạt tới đỉnh cao của nó vào Giáng Sinh 1972.

Lúc đó, Hà Nội sử dụng – theo như giới quân đội nói – loại vũ khí quyết định chiến tranh: phiên bản mới của tên lửa SAM-2 của Nga. Cho tới lúc đó, lực lượng phòng không không thể vươn tới được những chiếc máy bay B-52 ném bom của chúng từ ở một độ cao lớn. Bây giờ thì kỹ sư người Việt đã phát triển SAM-2 cho tới mức chúng có thể bắn trúng máy bay ở độ cao cho tới 12.000 mét. Ngay từ giữa 1970, tên lửa mới đã có thể được sử dụng, thế nhưng giới quân đội bắc Việt muốn để dành nó cho giai đoạn cuối. Bất ngờ là hoàn toàn: phân nửa số B-52 được sử dụng trên bầu trời Việt Nam bị bắn hạ. Kể từ lúc đó, người ta nói về một “Điện Biên Phủ trên không”. Không chỉ người Mỹ là bị sốc, cả người Xô viết cũng ngạc nhiên, như các sĩ quan mỉm cười kể cho tôi nghe: người Việt đã hoàn hảo hóa tên lửa mà không cho Moscow hay biết.

Ngay sau đó, vào ngày 27 tháng Giêng 1973, hiệp định ngừng bắn Paris được ký kết. Và ngay ngày hôm sau đó, bộ tổng chỉ huy ở Hà Nội đã bắt đầu các kế hoạch tấn công vào Sài Gòn. Tướng bốn sao Nguyen Ngoc Bang, lúc đó ở trong Bộ Tổng Tham mưu, nói: “Chúng tôi không muốn lập lại sai lầm năm 1954, khi chúng tôi giữ đúng Hiệp định Genève, rút người về miền Bắc và tin tưởng rằng phía bên kia cũng giữ đúng hiệp định”. Quân đội Thiệu cũng đã dùng những tuần đầu tiên sau Hiệp định Paris để mở rộng lãnh thổ trong những trận đánh lớn.

Ký kết Hiệp định Paris 1973
Ký kết Hiệp định Paris 1973

Cuối tháng Tư 1973, những lực lượng cuối cùng của quân đội Mỹ rời Nam Việt Nam. Cho tới đầu 1975, đường mòn Hồ Chí Minh, bây giờ không còn bị ném bom ngăn chận nữa, được người Bắc Việt và Việt Cộng xây mở rộng thành một hệ thống gồm năm con đường ô tô song song với một chiều dài là 5500 kilômét. Cùng với những con đường phụ và những đoạn thay thế, mạng lưới bây giờ có một chiều dài tổng cộng là 16.000 kilômét. Ngoài ra, Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội còn thiết lập một đường dây điện thoại xuyên qua Campuchia cho tới các chiến trường cực nam và kéo dài đường ống dẫn xăng cho tới Lộc Ninh.

Vào ngày 8 tháng Giêng 1975, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định “giải phóng” hoàn toàn miền Nam và Sài Gòn khỏi chính quyền Thiệu. Theo tướng bốn sao Bang, tương quan lực lượng quân sự lúc đó được đánh giá như sau: Mặt trận Giải phóng có 418.000 người lính trong lực lượng chính quy, thêm vào đó là 60.000 người dân quân địa phương và 15.000 du kích quân trong thành phố. Cần phải lưu ý rằng sau những tổn thất đẫm máu của đợt tấn công Tết Mậu Thân, lực lượng Việt Cộng đã được bổ sung cho tới hai phần ba bằng lính của quân đội Bắc Việt. CIA thời đó đưa ra con số 300.000 cho các đạo quân cộng sản. Quân đội tướng Thiệu bao gồm 690.000 chiến binh và 1,5 triệu cảnh sát và nhân dân tự vệ. Cho tới lúc đó, Bắc Việt đã mang vào miền Nam 500 xe tăng, 500 đơn vị phòng không và pháo binh và 350 máy bay. Thiệu có trên 2100 xe tăng, 1500 đơn vị phòng không và pháo binh và 1800 máy bay.

Tình hình chính trị thế giới được Hà Nội đánh giá là thuận lợi: nước Mỹ vẫn còn bận bịu với xì căng đan Watergate và Cận Đông, Trung Quốc với “bè lũ bốn tên”. Trận tấn công vào tỉnh lỵ Phước Bình trở thành một cuộc thử nghiệm: quân đội Mỹ có mặc nhận lần táo tợn phá vỡ hiệp định ngưng bắn này không, hay là can thiệp một lần nữa với quân đội của họ? “Khi không có điều gì xảy ra thì đó chính là dấu hiệu cho chúng tôi: chúng tôi tự do đi tới”, tướng bốn sao Bang nói. Tuy vậy, sau mỗi một bước tiến lên người ta đều kiểm soát: hạm đội Bảy của Mỹ di chuyển theo hướng nào, tướng Mỹ nào đáp xuống Sài Gòn?

Sau mười lăm ngày tấn công, người ta đã dự định chiếm Sài Gòn vào cuối 1975. Cuộc tiến quân diễn ra nhanh hơn là trên kế hoạch. Vào ngày 28 tháng Hai, lần đầu tiên từ 1961 có một phái đoàn quân sự xuất hiện ở Hà Nội. Trung Quốc, một bên cùng ký Hiệp định Ngưng bắn Paris, tỏ vẻ lo lắng về đợt tấn công và khuyên nên hãy kìm chế. “Chúng tôi không cho người Trung Quốc biết rằng chúng tôi muốn chiếm vùng Tây Nguyên hai tuần sau đó và rồi quyết tiến hành cuộc tấn công quyết định vào Sài Gòn”, tướng bốn sao Bang giải thích.

Vài ngày sau đó, Phó Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Liên xô tới thăm Hà Nội. Cả Liên bang Xô viết cũng lo ngại người Mỹ có thể khởi động một cuộc đánh trả quy mô lớn, khi có thể nhìn thấy quân đội Sài Gòn được trang bị bằng vũ khí Mỹ có thể sụp đổ. Người Xô viết thích một giải pháp chính trị hơn, tức là “hội đồng hòa giải quốc gia” đã được dự định trong Hiệp định Paris, một chính phủ lâm thời từ những người theo Thiệu, Việt Cộng và “lực lượng thứ ba” trung lập, vì vậy mà họ đã giảm cung cấp vũ khí và đạn dược từ đầu năm 1973.

“Chúng tôi là những người nghèo, chúng tôi đã quen việc để dành lại một ít trong thời gian tốt đẹp”, một thành viên cao cấp của quân đội trả lời cho câu hỏi của tôi, làm sao mà người ta có thể chuyển sang tấn công dưới những hoàn cảnh như vậy. Thêm vào đó thì vũ khí được bán đi càng nhiều hơn từ quân đội Thiệu, khi chiến bại nhích tới càng gần hơn.

Vào ngày 11 tháng Ba, Việt Cộng tràn ngập thành phố Buôn Mê Thuột và đẩy lùi quân đội Thiệu ra khỏi toàn Tây Nguyên. Cả ở Huế và Đà Nẵng họ cũng đột phá thành công; quân đội chính phủ Nam Việt Nam hoảng loạn bỏ chạy. Bộ Tổng Tham mưu ở Hà Nội bây giờ để cho toàn bộ quân đội Bắc Việt hành quân qua biên giới để ngỏ ở vĩ tuyến 17. Trên con đường mòn Hồ Chí Minh, bây giờ là một con đường cao tốc, họ lăn tới chiến thắng cuối cùng.

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit, số ra ngày 21/6/1985:

http://www.zeit.de/1985/26/ho-ho-ho-tschi-minh/komplettansicht

Advertisements

4 thoughts on “Mổ xẻ một chiến thắng (hết)

  1. “Lúc đó, Hà Nội sử dụng – theo như giới quân đội nói – loại vũ khí quyết định chiến tranh: phiên bản mới của tên lửa SAM-2 của Nga. Cho tới lúc đó, lực lượng phòng không không thể vươn tới được những chiếc máy bay B-52 ném bom của chúng từ ở một độ cao lớn. Bây giờ thì kỹ sư người Việt đã phát triển SAM-2 cho tới mức chúng có thể bắn trúng máy bay ở độ cao cho tới 12.000 mét”. Riêng đoạn này thì tờ Die Zeit viết không đúng. Thực ra SAM-2 phiên bản đầu đã có tầm bắn cao đến 20.000 m. Ngày 1-5-1960, hai tiểu đoàn tên lửa phòng không của Liên Xô bằng 4 quả đạn SAM-2 này đã hạ một chiếc trinh sát U-2 của Mỹ bay cao 19.000 m trên bầy trời Sverlovsk, bắt sống viên phi công Francis Power. “phân nửa số B-52 được sử dụng trên bầu trời Việt Nam bị bắn hạ” đoạn này thì tờ Die Zeit viest hơi quá. Ngay cả khi căn cứ vào số liệu do Hà Nội công bố thì chỉ có 34/193 B-52, tức là 17,2% số B-52 mà Mỹ sử dụng vào chiến dịch Linebeaker II bị bắn hạ. “cả người Xô viết cũng ngạc nhiên, như các sĩ quan mỉm cười kể cho tôi nghe: người Việt đã hoàn hảo hóa tên lửa mà không cho Moscow hay biết.” Câu này thì hơi buồn cười. Các chuyên gia Liên Xô đã giúp các sĩ quan tên lửa Việt Nam nâng cao khả năng kháng nhiễu của hệ thống Dvina (SAM-2) dực trên những dữ liệu về các loại nhiễu của B-52 và các máy bay khác của Mỹ do các sĩ quan trinh sát radar Việt Nam cung cấp. Có lẽ viết từ năm 1985 nên thông tin lúc đó hoặc ít hơn bây giờ, hoặc chưa được công bố. Trân trọng bác !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s