Mổ xẻ một chiến thắng (phần 2)

Dòng tiếp tế chảy ba năm trời, Mặt trận Giải phóng chuẩn bị ba năm trời cho trận đánh lớn, ba năm trời , lính Mỹ cực nhọc chiếm, mất và tái chiếm một vài đỉnh cao và vùng đất nhỏ – rồi vào ngày 31 tháng Giêng 1968, trận tấn công vào dịp Tết nổi tiếng của Việt Cộng bắt đầu. Du kích quân bò ra khắp nơi từ những căn hầm ở dưới mặt đất của họ; du kích quân thành phố xung phong đánh chiếm công sở và cả đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn nữa; quân chính quy của Mặt trận Giải phóng tấn công 24 căn cứ Mỹ và 33 tỉnh lỵ, chiếm cố đô Huế (trong bảy tuần) và nhiều vùng đất quan trọng. Ngay cả khi lần tấn công này cuối cùng chấm dứt trong một thảm bại quân sự đẫm máu, cuộc nổi dậy của người dân chống chính quyền Sài Gòn đã không xảy ra như được hy vọng và những tờ tiền đã được in sẵn, có giá trị trên toàn Việt Nam, tạm thời phải ở lại trong các két sắt của Hà Nội, thì đó là một thất bại chuẩn bị cho chiến thắng. Công chúng Mỹ, bị sự lạc quan hào hứng của quân đội đánh lừa ba năm trời, đã kinh hoàng vì quy mô của du kích bí mật Việt Nam. Từ đó, với mỗi một người lính trở về quê hương trong chiếc quan tài, phong trào phản chiến lại càng mạnh hơn. Chiến tranh Việt Nam không còn chỉ được tiến hành ở Đông Dương nữa, mà cả trên đường phố của nước Mỹ.

Một người lính của QLVNCH đang nhắm bắn các vị trí của Việt Cộng ở Chợ Lớn trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân
Một người lính của QLVNCH đang nhắm bắn các vị trí của Việt Cộng ở Chợ Lớn trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Ảnh: The Vietnam Center and Archive

Ngày nay, tướng Trần thừa nhận một cách dễ dàng, rằng mãi sau trận tấn công dịp Tết, Việt Cộng mới nhận ra rằng, “không đủ mạnh để đồng thời tấn công ở khắp mọi nơi”. Khi rồi người Mỹ tạm thời ngưng ném bom miền Bắc và (trong tháng Năm 1968 ở Paris) bắt đầu đàm phán hòa bình với Bắc Việt Nam, Việt Cộng nhìn thấy đã đạt được mục tiêu đầu tiên của họ: “cho người Mỹ thấy rằng họ không thể chiến thắng ở đây được”.

Tướng Trần đã thích thú theo dõi vụ kiện cáo kết thúc vào đầu năm nay của cựu tổng tư lệnh Mỹ ở Việt Nam, tướng Westmoreland, chống lại đài truyền hình CBS đã tố cáo ông cố tình làm giảm nhẹ lực lượng của Việt Cộng trong các bản báo cáo tình hình của ông. Phán xét của ông: Về một mặt, có lẽ Westmoreland thật sự đã nói dối – cuối cùng thì ai cũng nói dối người khác trong Chiến tranh Việt Nam: CIA nói dối vị tướng, vị tướng nói dối tổng thống, tổng thống nói dối quốc hội và tất cả các tổng thống đều tự dối mình – mặt khác, tất nhiên là viên tổng tư lệnh không thể ước lượng chính xác được lực lượng của Mặt trận Giải phóng, vì chính bộ tổng chỉ huy ở Hà Nội cũng chỉ biết được các đơn vị chính quy của Mặt trận Giải phóng, nhưng đạo quân của những người lính du kích thì không.

Đối với du kích quân, trận tấn công dịp Tết trong tháng Hai 1968 đồng nghĩa với việc dứt khoát từ bỏ phương án du kích quân của Mao. Chiến lược “đánh và lẩn tránh” (“du kích”), do cố vấn Trung Quốc khuyến khích nhiều năm trời, được thay thế bằng chiến lược “đánh và ở lại đó”. Ngày càng có nhiều vùng được “giải phóng” và bảo vệ. Những người theo đường lối Trung Quốc, từ bỏ xung đột quân sự lớn và thích đi tới chiến thắng bằng những mũi kim chích và chờ đợi, mất ảnh hưởng trong Mặt trận Giải phóng.

Giới quân đội Mỹ trả lời trận tấn công dịp Tết với một viên tổng tư lệnh mới (tướng Abrams), với một chiến lược mới và những chiến dịch mà họ cho nó những cái tên mang sự chắc chắn của chiến thắng (“Certain Victory” và “Complete Victory”). Trong chiến dịch “Pinkville”, đơn vị “Charly” của Lữ đoàn Bộ binh 11 đáp xuống Tinh Khe vào ngày 16 tháng Ba 1968. Trên tấm bản đồ hành quân, ngôi làng đó có tên là “Mỹ Lai 4”.

“Tôi thức dậy rất sớm, vào buổi sáng ngày hôm đó”, người phụ nữ trẻ tuổi ngồi trước mặt tôi thuật lại. Cô có tên là Phan Thi Trinh, mười tuổi vào lúc đó. “Tôi nghe tiếng trực thăng ở xa. Chúng tôi nhanh chóng bò xuống hần.” Tấn công từ những đoàn máy bay trực thăng không phải là điều gì đặc biệt. Mỹ Lai thuộc vùng của Việt Cộng, là “vùng giải phóng”  (hay một “vùng bị chiếm đóng” trong cách nói của quân đội Mỹ). Đạn pháo nổ và súng máy kêu vang một giờ liền. Rồi im lặng.

“Tôi nghĩ tất cả đã qua rồi và bò ra ngoài. Nhưng có ba người lính đứng trước tôi ở đó, cả một người da đen. Họ la hét tôi, nhưng tôi không hiểu gì cả. Họ dùng súng đánh và đẩy chúng tôi tới chỗ những người láng giềng của chúng tôi và bắn vào chúng tôi. Mẹ tôi ngã xuống. Tôi bị bắn trúng vào cánh tay. Tôi chạy ra phía sau vào một gian phòng, ở đó đã có dì tôi và đứa con sơ sinh của dì nằm. Chúng tôi rất sợ vì em khóc rất to. Họ bắn từ ngoài vào gian phòng. Đứa bé ngưng, nhưng rồi lại bắt đầu khóc, và những người lính quay trở lại. Chúng tôi nghe được tiếng giày ủng của họ. Tôi nằm dưới dì tôi. Dì bị nhiều viên đạn bắn trúng, tôi chỉ bị có ba; dì nói thì thào: yên, yên nào. Lúc đó tôi thiếp ngủ đi.” 504 phụ nữ và trẻ em đã chết vào buổi sáng ngày hôm đó, năm trẻ em sống sót.

Vào lúc đầu, Phan Thi Trinh đã tường thuật lại một cách lãnh đạm kỳ lạ, khi cô dẫn chúng tôi đi qua các ngọn đồi đã từng là ngôi làng quê hương của cô, chỉ vào một con mương, nơi người ta đã bắn chết láng giềng của cô vào thời đó. Trong nhà tưởng niệm, với thói quen của một người trông coi viện bảo tàng, cô đã giải thích các tấm bản đồ và kế hoạch chuẩn bị vụ thảm sát của người Mỹ, ánh mắt lúc nào cũng thẳng về phía trước. Nhưng rồi đôi môi của cô bắt đầu run run; thời gian ngưng giữa những câu nói mỗi lúc một dài ra, như thể cô phải cố gắng để nhớ lại, và bây giờ thì tay cô run tới mức trong lúc uống đã làm sánh một ít trà ra khỏi chiếc tách lên chiếc áo trắng của cô. Cô phải gắng tự chủ mình nhiều hơn nữa, cô xin lỗi. Người nữ phiên dịch bắt đầu khóc thật nhỏ. Tiếng nhạc rock Mỹ vang rè rè ở ngoài kia.

Cô không căm thù người Mỹ, Phan Thi Trinh nói; trong những tuần vừa rồi, cô đã ngồi đối diện với nhiều nhà báo Mỹ. Một người trong số họ, phóng viên của một tạp chí nổi tiếng ở New York, trong sự bất lực của mình đã viết vào quyển sổ lưu niệm lời yêu cầu, rằng tất cả các tội phạm chiến tranh cần phải được ghi nhận lại chính xác như vụ Thảm sát Mỹ Lai.

Người dân của làng kế cận, sống sót qua được chiến dịch “Pinkville”, bị lính Mỹ mang vào một trong những ấp chiến lược cách đó mười lăm kilômét, nơi được người Nam Việt bảo vệ chống lại Việt Cộng. Trong cuộc chiến tranh này, người ta không những giành giật ác liệt từ mét một mà cả từng người dân một nữa.

Đồng bằng sông Cửu Long được xem là “đã được bình định”; giới quân đội Mỹ và những người giúp phát triển thích phô trương nó ra như là vùng đất gương mẫu cho sự thành công của chiến dịch “bình định” của họ. Du kích quân ở đây, sâu trong miền Nam, bị cắt đứt khỏi con đường mòn Hồ Chí Minh và không có vũ khí hiện đại. Những chiếc thuyền nhanh đi tuần tra trên sông Mekong của người Mỹ và Nam Việt là mục đích chính của những cuộc tấn công của họ. Chu Hung, thời đó là thành viên của một đơn vị du kích trong tỉnh Cửu Long, thuật lại: “Chúng tôi chỉ có bazooka nhỏ, B 40, để đánh chìm tàu. Loại này có tầm xa năm mươi mét; vì vậy mà chúng tôi kết những cái bè trông giống như bụi rậm đang nổi trên mặt nước, để tiến tới gần.” Từ trên đất liền, du kích quân dùng những giàn phóng thật to bằng thân tre và dây cao su để quẳng lựu đạn tự chế lên các chiếc thuyền tuần tra. Để đối phó với những nhóm trinh sát của lính Mỹ, họ cố dùng tên tẩm thuốc độc hay bom, những quả cầu bằng gỗ có móc sắt rơi từ trên cây xuống.

“Rồi chúng tôi bắt đầu mua vũ khí thật sự từ lính của Thiệu”, Chu kể, “đó là những người lính quân dịch, họ muốn được yên và muốn có tiền cho gái. Ngoài ra thì họ căm ghét người Mỹ, vì chính họ không còn có tiếng nói nữa, ở những cô gái cũng không.” Bằng cách này, cả nhiều xe tải súng máy Mỹ, súng chống tăng và lựu đạn rơi vào tay Việt Cộng. “Tiếp tế cho quân đội Thiệu (tướng Thiệu là tổng thống cuối cùng của Nam Việt Nam ) cũng là tiếp tế của chúng tôi.”

Du kích quân lấy tiền mua vũ khí từ những người chủ tiệm trong các thành phố: Việt Cộng thu thuế ngay cả trong các thành phố do Sài Gòn kiểm soát, giống như thuế chiến tranh hay tiền bảo kê. Quân số của các đơn vị du kích vũ trang trong vùng quanh tỉnh lỵ Vĩnh Long được Chu đưa ra với con số 900. 15.000 lính Mỹ và lính Nam Việt Nam đứng đối diện với họ.

Thuyền Hải quân Mỹ đi tuần tra ở đồng bằng sông Cửu Long
Thuyền Hải quân Mỹ đi tuần tra ở đồng bằng sông Cửu Long

Với những chiến dịch thanh trừng thường xuyên trong làng mạc và rừng rậm, lực lượng hùng hậu này cố gắng truy tìm du kích quân.  Với ít thành công. Tại sao? Chu sang một hòn đảo ở giữa sông Mekong với chúng tôi. Nó có tên là An Benh và nằm ở phía Bắc của Vĩnh Long. Ông muốn chỉ cho chúng tôi xem một “địa chỉ đỏ”, một nơi dấu vũ khí và du kích quân. Chúng tôi gặp một ông lão bảy mươi tuổi, mời chúng tôi ăn đu đủ, hái xoài từ vườn của ông, mang ra nước dừa, nhưng không biểu lộ nhiều sự thích thú cho việc thuật lại quá khứ cách mạng của ông. Giữa những miếng khóm nhỏ và chuối lớn, ông tình cờ nói rằng cha mẹ ông đã từng dấu người Việt Minh trốn người Pháp. Khi cha mẹ ông chết, ông đã kín đáo chôn cất họ ngay cạnh nhà và ngôi mộ được xây thành nơi ẩn nấp cho du kích quân. Ông đứng dậy, dẫn chúng tôi đến một ngôi mộ đá cao, đẩy tấm che nặng nề sang một bên và để cho chúng tôi nhìn vào có đủ chỗ cho ba người. Ông dấu các du kích quân khác trên trong mái có đáy đôi của nhà ông; ông cất vũ khí dưới tán những cây chuối trong vườn.

Mỗi lần, những người du kích chỉ ở lại chỗ ông lão trong một thời gian ngắn; sau chiến dịch vũ trang của họ, họ lại kéo sang những vùng khác, tới những “địa chỉ đỏ” khác hay vào những vùng do Việt Cộng quản lý. Ông lão có khách mới. Ở trong tỉnh Cửu Long có hai trăm nơi ẩn nấp như thế này, trong Sài Gòn trên bảy trăm, trong tất cả các vùng do quân đội chính phủ và người Mỹ kiểm soát khoảng sáu ngàn. Tuy vậy, Chu sống hoàn toàn bình thường tại Vĩnh Long, với giấy tờ giả – do người đứng đầu văn phòng giấy tờ địa phương cấp, một Việt Cộng nằm vùng.

Ở thành phố Trà Vinh láng giềng, “bộ đội”, các “chiến binh từ trong rừng”, như người Việt Nam gọi họ, có nơi ẩn nấp trong một ngôi chùa, tại nhà sư Son Sa Ra. Ông đã tham gia Mặt trận Giải phóng khi chiến quyền Thiệu tăng cường đàn áp người Phật giáo. “Họ không còn để cho chúng tôi yên, họ bắt nhà sư và phá chùa”, Son Sa Ra thuật lại, “thế là tôi đã tìm tới một người dẫn tôi tới gặp quân du kích.” Nhà sư được gửi vào một “vùng giải phóng” vài tháng, để học tập. “Họ dạy cho tôi cần phải vận động trong số các nhà sư ra sao để không gây sự chú ý.” Một vài người đã cởi bỏ chiếc áo cà sa và cầm lấy khẩu súng, nhưng Son Sa Ra lại trở thành liên lạc viên giữa những người chiến đấu trong bí mật và những người có thiện cảm trong công chúng.

“Cầm vũ khí không có nghĩ là giết người mà là tự vệ”, Son Sa ra nói khi ông nhìn thấy gương mặt trầm ngâm của tôi. Năm 1970 ông đã giết người. Khi một lực lượng của quân đội Thiệu muốn bắt vài nhà sư trong làng Choc San đi lính, ông đã cùng với những người đồng tín ngưỡng đánh chết hai người lính.

Cordt Schnibben

Phan Ba dịch từ tuần báo Die Zeit số 26 ra ngày 21/6/1985

http://www.zeit.de/1985/26/ho-ho-ho-tschi-minh/komplettansicht

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

One thought on “Mổ xẻ một chiến thắng (phần 2)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s