Mổ xẻ một chiến thắng (phần 1)

Cordt Schnibben

Phan Ba dịch từ tuần báo Die Zeit số 26 ra ngày 21/6/1985.

Đường mòn Hồ Chí Minh
Đường mòn Hồ Chí Minh

Ông lão lặng lẽ bước từ trong rừng ra và dẫn đầu nhóm của chúng tôi mà không nói một lời nào. Đôi bàn chân nhanh nhẹn của ông kể từ lúc đó bắn những mảnh đất sét màu vàng nâu lên chiếc quần quân phục màu xanh của viên thiếu tá đi sau ông. Ông lão cầm trên tay một cây nỏ, lủng lẳng ở phía sau lưng là một cái giỏ đựng tên. Cái mông trần của ông óng ánh màu đồng.

Khi con đường mòn mỗi lúc một dốc hơn và trơn trượt hơn, ông giơ cao tay lên, biến mất vào trong bụi rậm một thời gian ngắn, quay trở ra với một bó lao tre được vạt nhọn và phân chia chúng ra cho chúng tôi. Với một cây trong số đó, ông gõ nhẹ vào ngực tôi và hỏi: “Avez vous une cigarette?” Thời trước, trước 1954, ông đã dẫn lính đánh thuê của Pháp đi xuyên qua rừng rậm, sau đó là du kích quân của Mặt trận Giải phóng và bây giờ – không cần hỏi, nhưng tựa như là điều tự nhiên – là tôi và những người Việt tháp tùng theo tôi. Chúng tôi di dọc theo biên giới với Campuchia, từ Lộc Ninh về hướng Bắc – trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Mười năm sau khi chiến thắng người Mỹ và vài tuần sau lần diễu hành chiến thắng ở thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn trước kia), cái có nhiệm vụ cho khắp thế giới thấy sự chiến thắng thêm một lần nữa, nhà báo Phương Tây được phép đi tìm dấu vết của chiến tranh và chiến thắng, nhìn vào những tấm bản đồ của các tướng lĩnh và hỏi chuyện các du kích quân.

Nếu như tin nguyên tổng thống Mỹ Richard Nixon lúc trước thì con đường bùn lầy này mà chúng tôi đang trượt đi trên nó, là thứ vũ khí kỳ diệu mà cuối cùng đã khuất phục được quyền lực dẫn đầu Phương Tây trong cuộc chiến dài nhất lịch sử của nó. Thiếu tá Võ Kim Cương, mà ống quần của ông bây giờ nâu nhiều hơn là xanh, rất thích nghe những lời khen ngợi như vậy, vì con đường này là một hoạt động của gia đình ông: cha ông, tướng một sao Bắc Việt Võ Bẩm, là người phát minh ra con đường kỳ diệu này, và ông, người kỹ sư, người xây dựng những cây cầu khó, những kết cấu ngụy trang khéo léo và những đoạn đường rừng phức tạp.

Ngay từ đầu 1959, thiếu tá Võ thuật lại như vậy khi chúng tôi nghỉ ngơi trong một căn nhà nằm nửa dưới mặt đất, Bộ Chính trị Bắc Việt ở Hà Nội đã quyết định xây một đường tiếp tế quân sự từ miền Bắc cộng sản vào miền Nam được người Mỹ bảo vệ, để gửi vũ khí cho những nhà cách mạng và để cho quân lính thâm nhập vào, thường là các Việt Minh có quê ở miền Nam mà năm 1954 sau khi ngưng bắn và chia cắt đất nước đã ra Bắc. Vào thời điểm đó, người cộng sản đã từ bỏ hy vọng thông qua hoạt động chính trị mà có thể đạt tới các cuộc bầu cử được đề nghị trong Hiệp định Genève của năm 1954. Ngày càng có nhiều người cộng sản và những nhà đối lập khác trở thành nạn nhân các chiến dịch thanh trừng của chính quyền Thiệu ở Sài Gòn.

Năm trăm người lính bắt đầu làm đường, đầu tiên là từ Vinh cho tới sông Bến Hải gần vĩ tuyến 17 chia cắt miền Bắc với miền Nam, và kéo dài nó từng đoạn một, ngày càng sâu hơn vào miền Nam. Đầu 1961, chuyên chở vũ khí đã đạt tới một quy mô mà bắt đầu trở nên nguy hiểm khi cứ tiếp tục lén lút mang qua vùng đất phía Nam của vĩ tuyến 17 được quân đội Nam Việt Nam canh gác cẩn mật. Tướng Võ Bẩm quyết định tránh qua mặt phía Tây của dãy núi Trường Sơn trùng điệp, tức là tiếp tục con đường mòn Hồ Chí Minh trên lãnh thổ của Lào. Phiến quân Pathet Lào cộng sản trong vương quốc Lào đã giải tỏa một hành lang rộng tám mươi kilômét cho đồng minh Bắc Việt. Các bộ tộc trên núi dọc theo con đường mòn được cung cấp thực phẩm và quần áo và qua đó trở thành đồng lõa với những người khuân vác vũ khí.

Tiếp tế bằng xe đạp trên đường mòn Hồ Chí Minh
Tiếp tế bằng xe đạp trên đường mòn Hồ Chí Minh

Ngay cả những nòng súng đại bác nặng hai tạ cũng đi trên các đôi vai vào miền Nam, những phần nặng trên xe đạp (hiệu “Favorit” từ Tiệp Khắc) hay trên lưng voi. Đạo quân những người khuân vác đã tăng lên con số chục ngàn vào đầu 1963, lúc đó con đường mòn đã vào tới Lộc Ninh, tới nơi mà chúng tôi đang đi.

Ở nơi rừng nguyên thủy không đủ rậm để bảo vệ con đường mòn không cho người ta nhìn thấy nó từ trên cao, du kích quân đã treo thêm những chậu cây leo trên ngọn cây. Qua một cái cầu khỉ, một cái thân cây dài hai mươi mét được đốn xuống, chúng tôi qua tới bờ bên kia của một con sông chảy xiết. Chúng tôi đã cột chặt ống quần của chúng tôi lại ở phía dưới, chống đỉa và ve. Không lâu sau đó, chúng tôi tới một trạm cung ứng, một trong những nơi mà những người khuân vác nhận được một chén cơm và có chỗ ngủ. Đó là những cái hầm được đào thành hình chữ nhật, bên trên được che bằng lá cây. Khói từ những hầm nấu ăn được dẫn qua một đường hầm thoát lên mặt đất cách xa hàng trăm mét. Có cơm gà.

Lúc bị máy bay tấn công, du kích quân chui vào đường hầm hình tam giác ở cuối hầm. Thiếu tá Võ đã xây tường đôi bằng thân tre cho chúng, nên nếu có bom nổ ở ngay bên cạnh thì cũng không có tác động gì.

Cuối 1964, quân đội Sài Gòn phát hiện ra nhiều đoạn của con đường mòn Hồ Chí Minh, những nơi bị bỏ bom ngay lập tức. Đã quá muộn. Mặt trận Dân tộc Giải phóng, được biết tới nhiều hơn dưới tên “Việt Cộng”, và quân đội của họ đã kiểm soát nhiều phần rộng lớn của đất nước và dồn quân đội chính phủ vào chân tường. Để đối phó, chính phủ Mỹ quyết định không chỉ hỗ trợ cho cái được gọi là Việt Nam Tự Do với 16.000 cố vấn quân sự nữa, mà với quân đội của họ.

Xây cầu trên đường mòn Hồ Chí Minh
Xây cầu trên đường mòn Hồ Chí Minh

Tháng Ba 1965, những người lính thủy quân lục chiến đầu tiên đổ bộ vào bờ biển Đà Nẵng; cho tới cuối năm, con số lính Mỹ ở Việt Nam đã tăng lên tới 250.000 (và sau này đã tăng lên tới 550.000). Đối với người cộng sản Việt Nam, can thiệp của người Mỹ phải là một cú sốc. Tướng Trần Kinh Chi, người đã cho tôi một tổng quan về cuộc chiến từ góc nhìn của Hà Nội trước chuyến đi đường mòn Hồ Chí Minh của tôi: “Trong tất cả những năm dài chiến đấu, nếu như từng có một giai đoạn mà chúng tôi nghĩ rằng sẽ không thành công thì đó là năm 1965.”

Lính Mỹ có tiếng là bất khả bại; họ chưa từng thua một cuộc chiến, cả ở châu Âu lẫn ở Thái Bình Dương, cả ở Triều Tiên lẫn ở Trung Mỹ. Việt Cộng, cho tới lúc đó chỉ quen thuộc với cuộc chiến trên mặt đất, sợ nhất là đoàn máy bay trực thăng (“kỵ binh bay” của Lục quân Hoa Kỳ), nhưng chẳng bao lâu sau đó cũng sợ cả các máy bay cường kích hiện đại và máy bay ném bom B-52. Thêm nữa, Trung Quốc, cho tới thời điểm đó là nhà cung cấp vũ khí chính của người Bắc Việt, đã hạn chế viện trợ quân sự sau lần đổ bộ của thủy quân lục chiến. Tướng Trần: “Năm 1964, ngay từ lúc người Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, người Trung Quốc không hể nghĩ tới việc bảo vệ bầu trời của chúng tôi, như đã quy định trong Hiệp ước Tương trợ 1962.” Diễn đạt này có thể bị nhuốm màu của các xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam trong những năm vừa qua. Thật sự thì Trung Quốc có đủ lý do để không khiêu khích Hoa Kỳ một cách không cần thiết – giới quân sự Mỹ không che dấu các kế hoạch của họ, ném bom trung tâm thử nghiệm nguyên tử Loop Nor của Trung Quốc.

Liên bang Xô viết, cho tới khi sa thải Khrushchyov trong tháng Mười 1964 thì không hào hứng với những hành động quân sự ở Việt Nam (trong lúc lật đổ lãnh tụ điện Kreml, sự kiêng kỵ này cũng được các đối thủ của ông dùng làm lý lẽ), lợi dụng kẽ hở trong tình đoàn kết cộng sản và bắt đầu tăng cường cung cấp vũ khí cho Việt Nam.

Đầu tiên, Việt Cộng và các đồng chí ở miền Bắc của họ đã phản ứng lại sự can thiệp của người Mỹ bằng cách xây mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh trên quy mô lớn. Nhiều phần lớn của quân đội Bắc Việt vội vã hành quân ra “mặt trận” này, và con đường mòn trong rừng được san ra ra thành một con đường rộng. Bắt đầu cái mà người Việt gọi là “giai đoạn cơ giới hóa”; vai người và xe đạp đã làm đủ rồi. Bắt đầu là trên những chiếc xe tải cọc cạch của Liên Xô đã có mặt trong trận đánh Điện Biên Phủ chống người Pháp năm 1954, rồi sau đó là trên những chiếc xe tải Nga và Trung Quốc hiện đại, chiến cụ nặng và nhẹ cũng như đạn dược được chuyên chở về hướng Nam.

Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh
Xe tải trên đường mòn Hồ Chí Minh

Vo Chinh Vu, một trong những người tháp tùng tôi, thời đó thường xuyên lái xe trên một đoạn đường 300 kilômét ở Lào và Campuchia. Về đêm và không bật đèn. “Rất đơn giản. Người Mỹ chiếu sáng mọi thứ với đạn lửa của họ.” Ông không bao giờ biết chính xác ông chở những gì; chúng được bọc không thấm nước. Ông chỉ có thể đoán được loại hàng chuyên chở từ những trạm trung chuyển mà ông phải lái xe tới đó mỗi lần. Tại trạm này, hàng của ông được chuyển sang một chiếc xe tải khác và được tiếp tục chở đi. Ông chạy ngược về, lấy những thùng hàng mới. Ông cần cho tới ba tháng cho 300 kilômét của ông; vì người Mỹ đổ bom mảnh, bom napalm, bom bi và những loại bom khác xuống ông và đồng đội, tổng cộng là bốn triệu tấn. Các đội dọn dẹp, sửa sang lại các con đường sau mỗi lần tấn công, đã tháo kíp nổ cho 57.000 trái bom không nổ, 13.000 bom từ, 80.000 trái mìn.

Chỉ một lần trong thời gian lái xe phục vụ mười năm là Vo bị trúng bom: một quả bom napalm rơi trúng xe tải của ông. Trong vòng nửa giờ, ông đã nằm trong một của nhiều trạm y tế bên cạnh đường. Một tuần sau đó, ông lại ngồi sau tay lái của một chiếc xe tải. Cho tới nay, những vùng da bị cháy trên lưng và cánh tay vẫn gây đau cho ông.

Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những mô đất nhỏ, được đánh dấu bằng đá hay bảng gỗ – mộ chiến sĩ. Người ta không biết có bao nhiêu người Việt chết ở trên con đường mòn Hồ Chí Minh. Chỉ có ghi chép về tổn thất của địch thủ trong vùng con đường mòn Hồ Chí Minh: 16.933 người và 2450 máy bay đã bị “tiêu diệt”.

Trước hết là từ trên không, người Mỹ cố gắng phá rối dòng chảy vũ khí liên tục từ Bắc vào Nam này. Máy bay đặc biệt kiểu AC-130, được trang bị máy nhắm nhìn ban đêm, phá hủy tròn 1500 xe tải và có thời gian gần như đã ngăn chận được việc tiếp tế. Thế nhưng người Việt đã vội vã xây một con đường khác dài 500 kilômét, được rừng rậm che phủ hoàn toàn và không thể nhìn thấy được từ chiếc AC-130 – con chim kỳ diệu mù mắt vào ban ngày.

Máy bay AC-130
Máy bay AC-130

Đường mòn Hồ Chí Minh dần dần trở thành một mạng lưới những con đường chính, đường song song và đường ngang, đầy những xưởng sửa chữa và trạm y tế, được liên kết bằng những cây cầu không thể đánh chìm được, được bảo vệ bằng những đơn vị phòng không hiện đại và vũ khí thô sơ.

Người dẫn đường của chúng tôi, ông lão với cái nỏ, thuộc bộ tộc Stieng, một dân tộc Khmer sống ở hai bên biên giới Việt Nam-Campuchia và ủng hộ Mặt trận Giải phóng. Khi cuối cùng rồi chúng tôi tới được làng của ông, ông hãnh diện giới thiệu chúng tôi với trưởng làng, một người đàn ông 101 tuổi, người trong thời chiến đã mang du kích quân qua sông Bé hàng ngày dưới nhiều nguy hiểm. Các con sông, đặc biệt là Sekong và Mekong trên lãnh thổ Campuchia, là những con đường mòn Hồ Chí Minh chảy xiết mà vũ khí được chuyên chở ở trên đó, có người và không có người đi cùng.

(còn tiếp)

Phan Ba dịch từ báo “die Zeit”, số ra ngày 21/6/1985:

http://www.zeit.de/1985/26/ho-ho-ho-tschi-minh/komplettansicht

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

4 thoughts on “Mổ xẻ một chiến thắng (phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s