Tôi đã từng yêu người cộng sản (hết)

Những tháng đầu tiên thật là tuyệt vời. Người cộng sản biểu hiện một lối cư xử tốt. Họ còn yếu và vì vậy mà không thể mạo hiểm bất cứ điều gì. Lúc tiến quân vào Sài Gòn, họ có chưa tới 2000 cán bộ chính trị để kiểm soát thành phố. Cơ cấu chính trị của họ đã bị phá vỡ qua những đợt bắt giam của chế độ Thiệu và bởi những chiến dịch thủ tiêu có hệ thống của cái được gọi là chiến dịch “Phượng Hoàng” do người Mỹ lãnh đạo.

Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hình: AFP
Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hình: AFP

Vì vậy mà họ bị bắt buộc phải điều hành sự việc hết sức cẩn thận. Bởi vậy mà cũng đã không xảy ra những vụ tàn sát như ai cũng dự đoán. Các cuộc bạo loạn đẫm máu ở Huế 1968, những cái đã gây hại cho họ rất nhiều, đơn giản là không được phép lập lại. Lúc chiếm thành phố của các hoàng đế ngày xưa, họ đã hành quyết trên 20.000 người chỉ trong vòng vài ngày và qua đó đã đánh mất rất nhiều uy tín. Họ muốn tránh điều đó ở Sài Gòn trong bất cứ trường hợp nào.

Thế nhưng uy tín của họ dần xấu đi. Kinh tế sụp đổ, và huyền thoại về một người lính cộng sản khổ hạnh đã tan vỡ. Vì vậy mà họ gởi kẻ cận thần và cũng là người sếp về tư tưởng của họ từ Hà Nội vào, Nguyen Khac Vien, người mà đã tuyên bố rằng những kẻ có lỗi chính là chúng tôi, giới trí thức của Sài Gòn, những kẻ thất bại chủ nghĩa.

Rồi khi đàn áp bắt đầu thì chúng tôi là những người đầu tiên bị bắt giam. Điều đó đến với tôi vào ngày 18 tháng Sáu 1978. Lúc sập tối, công an bao vây căn hộ của tôi. Họ dẫn tôi đi vào lúc trời hừng sáng. Một chiếc xe tải nhỏ chạy tới, để mang đi tất cả văn kiện, sách vở và bản thảo từ phòng làm việc của tôi – trên 100 kílô trong thùng các tông.

“Cấm không được khóc!” viên sếp công an nói với gia đình tôi. “Chúng tôi đã quen rồi”, vợ tôi đáp trả, “sẽ không có ai khóc đâu. Ông cứ dẫn chồng tôi đi đi!” Bà biết nhu cầu của tôi trong những trường hợp như vậy và đã ấn vào tay tôi một gói thuốc lá nhỏ.

Tôi được mang về trụ sở chính của an ninh Sài Gòn và bị biệt giam ngay lập tức.

Trong bóng tối hoàn toàn ở tại những nhiệt độ dao động giữa hết sức lạnh và hết sức nóng, tôi nghĩ là với tuổi của tôi thì sẽ không còn sống mà ra khỏi cái phòng giam này. Đầu tiên thì người ta luôn nghĩ tới điều đó: sống và chết. Rồi người ta quen dần và học cách giải quyết các vấn đề trước mắt – ví dụ như vấn đề với những con chuột chui vào trong qua cái hố ở đưới đất để làm hố xí cho tôi và chạy trên thân thể tôi suốt ngày đêm, 24 giờ liền.

Tôi sợ mình thiếp ngủ đi. Vì vậy mà lúc đầu tôi đã dùng áo của tôi bịt cái lỗ lại. Cuối cùng, tôi có thể giữ lại được một cái chén bằng nhựa mà người ta dùng nó để mang thức ăn vào cho tôi. Tôi dùng nó che cái lỗ lại.

Rồi kiến kéo tới, hàng đoàn kiến, nhất là vào mùa mưa. Khắp nơi đều đầy kiến, ngay cả trong thức ăn. Trong bóng tối hoàn toàn, người ta cảm nhận được chúng chạy qua trên tay trên miệng như thế nào.

Cửa chỉ được mở ra khi người ta dẫn tôi đi hỏi cung. Để tôi không bị mù vì có ánh sáng đột ngột, người ta thắt cho tôi một cái băng vải lên mắt.

Những lời buộc tội lúc nào cũng như nhau: là gián điệp của CIA, gián điệp của “Hắc Long”, của mật vụ Nhật, gián điệp của người nước ngoài (vì những mối liên hệ của tôi với các nhà báo người nước ngoài như Robert Shaplan của tờ “New Yorker” và Frances Fitzgerald, nữ tác giả của quyển “Fire in the Lake”).

Vào lúc đầu, chúng tôi còn có gạo trắng để mà ăn, thỉnh thoảng còn có những miếng cá nhỏ ở trong canh nữa. Nhưng rồi chúng tôi chỉ còn nhận gạo từ Ấn Độ, thứ chỉ cho gia súc ăn và rất khó tiêu hóa.

Con số tù nhân tăng lên từng ngày. Tuy tôi không bao giờ bị tra tấn thể xác nhưng bị áp lực rất nặng. Lúc nào cũng cùng những câu hỏi đó, lúc nào củng cùng những câu trả lời đó. Tôi chọn một chiến lược bảo vệ mà tôi biết là có tác dụng: phủ nhận hết, không nói gì hết. Tôi nghĩ cuối cùng thì họ cũng sẽ ngán ngẫm.

Một trại cải tạo ở Long Thành
Một trại cải tạo ở Long Thành

Một ngày nào đó, tôi được dẫn trở về phòng giam của tôi và rồi không được gọi đi nữa. Bốn tháng trời, cánh cửa không còn mở ra nữa. Có lẽ họ nghĩ rằng tôi đã chết rồi.

Một luật sư trẻ tuổi trong phòng giam đối diện với tôi chỉ chịu đựng được ba ngày. Một người bạn cũ, một bạn tù, xuất hiện hai lần trước phòng giam của tôi để nói với tôi rằng: “Cậu điên rồi à! Cậu phải thú nhận cậu là gián điệp của CIA. Trông tớ đây này, tớ được đối xử rất tốt. Tớ sống ở đây như một ông vua. Tớ có riêng một phòng 5,8 mét vuông cho tớ đấy.”

Người bạn tù này là một luật sư nổi tiếng, một ứng cử viên tổng thống yêu chuộng hòa bình đã từng ra tranh cử với Kỳ và Thiệu. Con trai của ông là gián điệp Việt Cộng bị Thiệu bắt, chính ông thì lại bị Việt Cộng bắt như là gián điệp của người Mỹ. Ông đã viết bản thú tội dầy 6000 trang. Nhưng tôi vẫn tiếp tục từ chối, ngay cả ký tên vào một biên bản hỏi cung cũng không.

Một ngày nào đó, sau hơn 13 tháng, tôi được dẫn ra khỏi phòng giam và đưa vào nhà tù Chí Hòa, nơi mà tôi đã từng nhiều lần ở trong đó.

Ở đó, tôi ngồi chung với 72 tù nhân trong một phòng giam. Chúng tôi có một chiếc chiếu nhỏ duy nhất để ngủ. Tức là chúng tôi phải thay nhau. Nhờ tuổi tác của tôi mà tôi được ưu đãi: những người khác để cho tôi ngủ từ nửa đêm cho tới ba giờ sáng, theo ý của các tù nhân thì đó là thời gian tốt nhất.

Chúng tôi sống không tệ. Tuy vậy, chúng tôi không được phép viết, và chỉ nhận được tin tức từ thế giới bên ngoài qua một sự sắp xếp nhỏ với những người canh tù: chúng tôi đổi một chiếc áo lấy vài tờ báo.

Trong số những người cùng ngồi tù với tôi là người trưởng địa phận dòng Tên, Nguyen Cong Doan, cựu chính trị gia, là người Hoa bị kết tội là gián điệp của Bắc Kinh, vâng, chính là một đại tá Việt Cộng, một trong những người sếp đầu tiên của Sài Gòn được giải phóng.

Vào một ngày nào đó, tôi được gọi lên lãnh đạo trại giam và được giới thiệu cho ba người ở đó, những người mà tôi chưa từng nhìn thấy trước đây. Đó là một phái đoàn của amnesty international, đã nhận tôi như là một người tù chính trị. Vài tuần sau, tôi nhận được vitamin – và hiểu rằng người ta sẽ trả tự do cho tôi.

Sau ba năm rưỡi, tôi nhận được lời khuyên hãy quên tất cả những gì mà tôi đã phải chịu đựng và được thả về nhà. Đối với tôi, lần trở về nhà này có nghĩa là: giám sát đặc biệt, không có việc làm, không có hy vọng.

Tôi đã học được nhiều thứ sau khi Sài Gòn thất thủ và trong nhà tù. Tất cả chúng tôi đã học được nhiều thứ.

Có vẻ như ngu ngốc, nhưng cho tới 1980 nhiều người, ngay cả sĩ quan cũ của chính quyền Thiệu trước đây, vẫn đơn giản không tin là người Mỹ đã thật sự bại trận. Chúng tôi nghĩ rằng người Mỹ chỉ giả vờ rời đất nước này, để cho người Việt có cơ hội tự trải nghiệm chủ nghĩa cộng sản, để sau đó tự bảo vệ mình chống nó tốt hơn. Chúng tôi tin chắc rằng người Mỹ sẽ trở lại và không chờ đợi gì ngoài lần quay trở lại của họ.

Ngày nay, chúng tôi biết được tình hình thật. Ngày nay, chúng tôi hiểu rằng chính chúng tôi phải làm gì đó.

FULRO Linh mục Công giáo tại nhà thờ ở trong rừng, nơi họ chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Hình: Nate Thayer
FULRO Linh mục Công giáo tại nhà thờ ở trong rừng, nơi họ chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Hình: Nate Thayer

Cũng có chống đối. Ở trong tù tôi đã gặp hàng chục đại diện của các nhóm đối lập. Mối nguy hiển cho những người cộng sản xuất phát từ giới trẻ, những người không còn có những cảm giác tự ti đối với họ nữa. Một vài người trốn vào bí mật. Vũ khí không phải là vấn đề, khắp nơi đều có những chỗ chôn dấu vũ khí.

Cái kỳ lạ trong cuộc kháng chiến chống cộng sản này là nó lại ẩn náu trong các thành trì mà ngày xưa người cộng sản cũng đã dấu mình ở đó. Ví dụ như cạnh con đường đi Vũng Tàu có một vùng nổi tiếng của Việt Cộng mà người Mỹ và người Sài Gòn chưa từng bao giờ kiểm soát được. Các kháng chiến quân mới cũng trốn đúng về đó.

Trên cao nguyên là các nhóm Fulro của người thiểu số, đã luôn là một vấn đề cho các cơ quan ở Sài Gòn, bây giờ là một vấn đề cho người cộng sản. Những người kháng chiến này còn tấn công vào các trại cải tạo để giải phóng tù nhân nữa.

Không còn nhiều người của chế độ cũ ngồi trong các trại này nữa, chỉ còn nhiều nhất là 20.000 người. Phần lớn tù nhân ngày nay là tù chính trị – những người đã tham gia các phong trào kháng chiến hay những nhóm tôn giáo như Hòa Hảo, Cao Đài và Công giáo, hiện là các mục tiêu đàn áp của chế độ.

Nước Việt Nam ngày nay là một đất nước của nhà tù. Mỗi huyện có nhà tù riêng, mỗi tỉnh có trại tập trung và trại lao động riêng. Chỉ riêng quanh Sài Gòn là đã có 21 trại giam. Tôi đoán rằng Việt Nam ngày nay có nhiều tù chính trị hơn là dưới thời chính quyền Thiệu.

Uy tín của Đảng đã giảm nhiều kể từ khi họ chiếm được quyền lực. Tham nhũng là một bệnh dịch, ngay cả trong số các thành viên của Bộ Chính trị. Điều đó ai cũng biết. Chính vợ của tổng tư lệnh quân đội, bà Dung, tổ chức những vụ ăn cắp vật dụng khổng lồ trong quân đội.

Để hiểu thấu được toàn bộ quy mô của sự tham nhũng này thì cần phải hình dung lại thời gian trước khi chiếm được Sài Gòn. Sau khi các hiệp định được ký kết ở Paris năm 1973, tướng Võ Nguyên Giáp muốn trước hết là thanh lọc Đảng. Ông đã nhận ra rằng tham nhũng dần dần rồi cũng lan tràn ra tới các hàng ngũ cao nhất. Ông không muốn chuyển sang xâm chiếm miền Nam khi chưa dọn dẹp sạch sẽ.

Nhưng Giáp không đạt được điều này. Lần thanh lọc lớn đã không diễn ra. Những người lẽ ra phải được loại trừ, nhất là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thúc giục tấn công miền Nam và chẳng bao lâu sau đó đã nhờ vào những huân chương mà họ giành được trong lúc chiếm Sài Gòn mà không còn có thể bị công kích được nữa. Điều này đã làm suy yếu chế độ.

Những người lý tưởng, những người cộng sản yêu nước thời trước, hầu như đã hy sinh gần hết trong chiến tranh. Nhưng những người trốn lánh, những người để cho người ta gửi sang các sứ quán trong các nước khối Đông Âu và qua đó tránh được nguy hiểm, thì lại tạo thành giới tinh hoa ngày nay của Việt Nam.

Đặc biệt giới cán bộ Đảng bậc trung là những người cơ hội và cu li. Đó chính là những người không bảo vệ quốc gia mà bảo vệ vẻ ngoài và lợi ích riêng của họ. Tấn bi kịch của Việt Nam là không còn thế hệ nào mà có thể mang lại cho đất nước một dòng máu mới và những ý tưởng mới.

Sự bất bình ngày càng lớn hơn. Người cộng sản, những người đã chiến thắng “thực dân Pháp”, “đế quốc Mỹ” và mới đây là “bành trướng Trung Quốc”, đã đánh mất uy tín của họ trong nhân dân.

Ngay cả vinh quang của họ, đã tặng cho đất nước nền độc lập, cũng đã biến mất rồi, vì nền độc lập này ngay từ đầu đã phải chịu một gánh nặng thế chấp: lãnh thổ Việt Nam bị từ bỏ; vịnh Cam Ranh ngày nay là một căn cứ quân sự thuần túy của Liên Xô mà không người Việt Nam nào được phép bước vào.

Đại tướng Văn Tiến Dũng trên boong chiến hạm BPK "Gnevnyi" tại Cam Ranh ngày 26/4/1984
Đại tướng Văn Tiến Dũng trên boong chiến hạm BPK “Gnevnyi” tại Cam Ranh ngày 26/4/1984

Sau khi được thả tự do, tôi chỉ còn nghĩ đến việc bỏ trốn. Chúng tôi đã cố thoát đi qua đường biển. Con trai út của tôi đã thành công. Sau khi tôi bị bắt, con tôi đã hiểu rằng trong đất nước của chúng tôi không còn cơ hội cho nó nữa. Con tôi đã trốn đi một mình với boat people, tới Thái Lan và sau một tháng ở trại đã sang Pháp.

Vợ tôi và tôi đã cố gắng nhiều lần và đã trả tiền nhiều lần cho một chỗ trên thuyền. Thế nhưng thậm chí tới biển chúng tôi cũng chẳng nhìn thấy được.

Các con tôi đã có thể rời đất nước năm 1983 nhờ vào sự giúp đỡ của cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc. Nhờ [hội từ thiện] Caritas giúp đỡ mà họ có thể sang Bỉ với hai người anh của chúng, đã đi du học trước đây 15 năm. Cuối cùng, vợ tôi và tôi nhờ sự can thiệp liên tục của amnesty international mà chính thức được phép rời bỏ đất nước.

Tôi mừng là đã được tự do. Lần đầu tiên trong đời, tôi bước chân lên đất Pháp. Mặc cho lần chiến đấu chống người Pháp trước đây, tôi đã lại tìm thấy chính mình ở đây và có cảm giác gần giống như ở nhà. Thế nhưng tôi không thể làm quen với ý nghĩ phải chấm dứt cuộc đời tôi như là một người tỵ nạn.

Có quá nhiều điều gắn kết một con người với phong cảnh và lịch sử của đất nước của người đó. Người ta không thể đơn giản là bỏ đi mà không mơ ước một ngày nào đó sẽ trở về.

Nếu không thì làm sao mà tôi có thể sống sót được, sau khi đã làm quen với bao nhiêu nhà tù đó và đã hy sinh một cuộc đời trong cuộc chiến đấu cho đất nước Việt Nam xấu số này?

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Spiegel số 20 / 1985:

http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

4 thoughts on “Tôi đã từng yêu người cộng sản (hết)

  1. Những kẻ YÊU LẦM người CS.như tác giả bài này có khác nào người thiếu nữ ngây thơ…
    trao DUYÊN LẦM tướng cướp và hậu qủa do việc làm đó của họ chẳng là gì cả khi so với hậu qủa đè nặng lên đất nước và dân tộc VN.đang oằn mình gánh chịu ngày nay !
    Giá mà họ tìm cách chuộc lỗi bằng hành động cụ thể hơn nữa thì đáng cảm phục biết mấy,
    chứ như bài này thì đáng được thông cảm cho sự cả tin của họ đối với người CS.vì họ chỉ
    là người qua đường,người ngọai cuộc nhìn vào sự kiện thấy được ở bên ngoài mà những sự kiện đó họ chưa từng trải qua để hiểu rõ thực chất của nó !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s