Tôi đã từng yêu người cộng sản (phần 2)

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 20 / 1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Năm 1941, khi người Nhật tiến quân vào Việt Nam, tôi nhận ra ngay lập tức rằng họ có thể giúp chúng tôi chống lại người Pháp, giành lại tự do cho chúng tôi.

Người Nhật tuyên truyền cho “Đại Á” của họ. Họ nói về sự độc lập với chủ nghĩa thực dân da trắng, điều tất nhiên là khiến cho giới trẻ chúng tôi rất hào hứng. Nước Nhật đã là huyền thoại: đất nước châu Á bé nhỏ này đã dám tấn công nước Nga rộng lớn và sau đó là Trung Quốc rộng lớn, vương quốc của các thần thánh. Đối với chúng tôi, người Nhật là những người anh hùng. Vì thế mà tôi đã chiến đấu cho thất bại đầu tiên của tôi.

Qua một người trong gia đình, một người anh em họ đã học đại học ở Tokio và trở về Việt Nam cùng với quân đội Nhật, tôi được giới thiệu vào Ủy ban Văn hóa Nhật ở Hà Nội. Lúc đầu, tôi chỉ biên dịch. Nhưng cuối cùng thì tôi giữ liên lạc với các phong trào quốc gia và theo Nhật ở Đông Nam Á.

Ủy ban Văn hóa Nhật thật ra là bộ chính trị của quân đội Nhật Hoàng cho Đông Dương. Đồng thời, tôi cũng lãnh đạo tờ báo L’action catholique.

Người cộng sản chống lại một sự hợp tác với người Nhật. Nhưng rồi khi nước Nhật đầu hàng trong tháng Tám 1945 và người cộng sản tiếp nhận quyền lực thì vào lúc ban đầu họ cần phải dựa vào chúng tôi là những người hợp tác, vì bản thân họ yếu và ít được biết tới.

Tôi còn nhớ chính xác ngày 2 tháng Chín 1945, khi Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam độc lập và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc đó, người dân hỏi: “Ai là gã nông dân đó vậy? Ai là người Trung Hoa đó vậy?”

Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh lúc vừa đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập
Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh lúc vừa đọc xong bản Tuyên ngôn Độc lập

Người cộng sản gọi tôi, vì họ muốn in một tờ báo. Người Nhật đã dấu mọi thứ. Tôi là người duy nhất biết giấy, máy móc và mực in ở đâu.

Vì thế mà tôi đã trở thành thơ ký cho tờ nhật báo đầu tiên của chế độ mới “cộng hòa, nhân dân”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng sau này là chính ủy của tôi. Ông lãnh đạo tờ báo, nhưng tôi làm ra nó. Thế nhưng sau vài tháng thì tôi bị Việt Minh bắt và tra tấn vì là người hợp tác với Nhật.

Khi người Pháp trở lại Hà Nội trong tháng Mười Hai 1946, để tiếp nhận lại đất nước bảo hộ của họ, họ cũng bắt giam tôi ngay lập tức – lần này thì do tôi là người hợp tác với cộng sản. Sau đó, họ muốn trục xuất tôi và đưa tôi sang Pháp lưu vong.

Vợ tôi muốn đi, nhưng tôi chống lại. Lúc đó tôi không muốn sống lưu vong ở Pháp. Ngày nay, 40 năm sau đó, thì ngược lại, tôi rất muốn sang Pháp – lần này thì là như một người tỵ nạn. Đó là một mâu thuẫn nữa của cuộc đời tôi. Cuộc đời của mọi người Việt đều đầy những mâu thuẫn như vậy.

Tôi còn nhớ, rằng tôi đang ở Hà Nội năm 1954, vào ngày của Điện Biên Phủ – trong tự do. Tôi sẽ không bao giờ quên được cái ngày đó. Tôi đang đi dạo trên đường phố khi một người bạn, một người Việt, phấn khích chạy tới với tôi: “Thắng rồi, thắng rồi!” “Ai thắng?” tôi hỏi ông. “Thắng rồi, thắng rồi!”, ông chỉ lập lại.

Vào chiều tối, ông ấy mời chúng tôi đến nhà. Khi chúng tôi bắt đầu ăn mừng lần chiến thắng người Pháp thì ông xếp đồ đạc vào va li. Ông ra đi vào ngày hôm sau – sang Pháp.

Thay vì đi Pháp, tôi vào miền Nam Việt Nam. Là người Việt, tôi rất hãnh diện trước chiến thắng của Việt Minh. Nhưng tôi không phải là người cộng sản và không thể sống dưới những người cộng sản. Tôi đã mua vũ khí cho họ và đã thương lượng với người Nhật vì chuyện này. Nhưng tôi cũng quen biết gần gũi với họ, những người cộng sản.

Vào thời tôi còn trẻ, trong số sinh viên cũng có những người tự gọi mình là người theo Trotsky. Lúc nắm lấy quyền lực, người cộng sản đã bắt giam và thủ tiêu tất cả những người này. Trong thời cải cách ruộng đất, họ cũng đã giết hàng ngàn người. Bức ảnh cha tôi, đã qua đời trong thời gian đó, bị họ đặt tại một ngã tư trong ngôi làng nơi ông sinh ra, để người dân tiểu tiện lên đó.

Mục đích của cuộc cải cách không phải là tái phân chia đất đai, mà là đập tan uy quyền của những gia đình xưa cũ như gia đình chúng tôi. Đối với người anh em của tôi thì điều đó không có gì là tệ hại cả. Ông ở lại Hà Nội và trở thành đảng viên. Nhưng tôi thì quyết định vào Nam.

Cải cách ruộng đất ở miền Bắc
Cải cách ruộng đất ở miền Bắc

Ở đó, tôi thay đổi tên họ và lấy bút danh Cao Giao của tôi, dựa vào tựa của quyển sách chính trị đầu tiên có nguồn gốc từ Trung Quốc “Le Cao Giao Mo”, có nghĩa như “kế hoạch của Cao Giao cho hạnh phúc của con người”. Tôi đã sở hữu một thư viện riêng với 20.000 quyển sách mà tôi phải bỏ lại.

Lúc vào tới Sài Gòn, đầu tiên là tôi mua một quyển sách hướng dẫn sửa chữa tủ lạnh. Chúng tôi không có tiền, và trời thì rất nóng nực. Vì vậy mà tôi nghĩ rằng đó là một việc tốt, sửa chữa tủ lạnh. Nhưng không thành công. Vì vậy mà tôi làm báo trở lại và chẳng bao lâu sau đó lại vào tù.

Tổng thống Diệm là người cho bắt giam tôi năm 1958. Tôi quen biết ông từ những năm bốn mươi, khi cả hai chúng tôi hợp tác với người Nhật. Ở Hà Nội, tôi đã từng là người đại diện cho ông. Tôi cũng đã tổ chức cuộc gặp gỡ giữa Ngô Đình Diệm và người Ấn lãnh đạo phong trào quốc gia chủ nghĩa theo Nhật Chandra Bose ở Singapore.

Diệm là người công giáo và chống cộng sản kịch liệt. Thế nhưng ông sợ người cộng sản và theo đuổi một chính sách củng cố sự chia cắt đất nước đã được đưa ra trong các hiệp định Genève: ở miền Bắc là người cộng sản, trong miền Nam là những người chống cộng sản. Tôi thì ngược lại muốn thống nhất đất nước bằng mọi giá, qua đấu tranh hay thỏa hiệp, nhưng không bao giờ chia cắt.

Nước Đức là một đất nước chiến bại bị các thế lực chiến thắng quyết định chia cắt. Triều Tiên là một thuộc địa cần phải chia cắt. Việt Nam ngược lại thì đã chiến đấu cho nền độc lập trong sự thống nhất của nó.

Chúng tôi phân tán truyền đơn yêu cầu thống nhất – bằng bất cứ phương tiện nào. Nhưng đối với Diệm thì “thống nhất” là một khẩu hiệu cộng sản. Vì vậy mà ông đã cho người bắt tôi như là bắt một “người cộng sản”. Tôi bị tra tấn bằng điện, để thừa nhận mình là một điệp viên bí mật của Hà Nội. Sau bảy tháng tôi được thả ra – lại chính là từ anh em của Diệm.

Năm 1963, tôi đứng gần giới làm đảo chính lật đổ Diệm với sự giúp đỡ của người Mỹ. Ảnh hưởng của những người cộng sản ngày một to lớn hơn trong miền Nam. Họ luôn luôn ở thế tấn công, chúng tôi chỉ ở trong thế phòng thủ. Điều này phải thay đổi. Chính chúng tôi phải tấn công miền Bắc. Để làm được điều này thì chúng tôi cần sự tin tưởng và vũ khí. Người Mỹ có dư thừa những thứ đó. Lý do cho cuộc đảo chính 1963 đã có.

Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963
Dinh Gia Long trong lúc đảo chánh năm 1963

Người Mỹ không như người Nhật. Họ không có huyền thoại bao bọc, không phải là samurai. Họ không phải là người Á châu như người Nhật và chúng tôi – người ta không được phép quên rằng chúng tôi là những người phân biệt chủng tộc. Nhưng chúng tôi nhất định phải cần họ.

Sự xuất hiện của người Mỹ đã làm tổn hại rất nhiều tới bản sắc của miền Nam. Hậu quả về văn hóa rất là to lớn. Sự hiện diện của người Mỹ đã làm hỏng xã hội Việt Nam, làm cho nó xa lạ. Các cô con gái kiếm được nhiều tiền hơn là cha mẹ, gia đình Việt Nam đã bị tan vỡ.

Thế nhưng về mặt quân sự thì việc người Mỹ đưa quân vào đã tạo hy vọng mới cho chúng tôi. Các sĩ quan của miền Nam chán nản và mất tinh thần tới mức về mặt tâm lý cũng thậm chí không có khả năng nghĩ tới một cuộc chiến đấu thắng lợi chống người cộng sản, những người chiến thắng Điện Biên Phủ trước kia. Bản thân tôi luôn tin rằng có thể đánh bại được người Cộng Sản. Năm 1968, với cuộc tấn công vào dịp Tết, người cộng sản đã thất bại trong việc kích động người dân miền Nam.

Các hiệp định của Paris năm 1973 và việc người Mỹ rút quân mới giúp người cộng sản chiến thắng được – một chiến thắng mà họ xứng đáng với nó về mặt đạo lý.

Những người cộng sản này! Tôi đã còn yêu họ nữa. Họ là những người duy nhất bén rễ sâu vào trong đất nước của chúng tôi và vào trong phong trào quốc gia. Họ không phải là một sản phẩm của Moscow hay của Bắc Kinh, họ có sự tự chủ của họ. Vì vậy mà họ có khả năng tiến hành chiến tranh 30 năm trời, vì vậy mà người dân đi theo họ. Họ có niềm tin và lý tưởng. Tôi đã ngồi tù cùng với họ. Họ đã không gãy gục khi bị tra tấn

Năm 1975, người cộng sản đánh thức dậy nhiều hy vọng to lớn. Khi tôi tin chắc rằng họ sẽ chiếm Sài Gòn và thắng cuộc chiến, tôi không hề nghĩ tới chuyện rời bỏ đất nước.

Từ năm 1963, tôi là một nhà báo làm việc cho Đài Phát thanh Bayern [của nước Đức], cho “Newsweek” và cuối cùng cũng cho tờ Spiegel. Thế nhưng tôi tin rằng không cần phải sợ người cộng sản, ngay cả khi tôi có một quan điểm chính trị khác với họ. Người cộng sản sẽ mang lại điều mà tôi luôn mong muốn: thống nhất Việt Nam.

Khi họ nói về hòa giải dân tộc, tôi thật sự có ấn tượng là sự hòa giải này đối với chính họ cũng là một sự cần thiết, khi họ muốn tái xây dựng đất nước.

Tôi đơn giản là không thể rời bỏ Việt Nam.

(Còn tiếp)

Cao Giao

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 20 / 1985: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13513784.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

Advertisements

4 thoughts on “Tôi đã từng yêu người cộng sản (phần 2)

  1. Nhiều người vẫn đánh giá những người như Ông là dạng ” ăn cơm quốc gia thờ ma CS ” nhưng Tôi thì không . Chẳng qua là Ông và những người như Ông lúc đó và trong bối cảnh đó chưa được hiểu và biết rõ về CS và cái chủ nghĩa đó !
    Bài viết của Ông chân thật và cảm động !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s