Bài học của ngọn đồi Thịt Băm (phần 2)

“Không ai thật sự thích lục lọi trong những hồi ức không hay”, thượng nghị sĩ John Kerry, 41 tuổi, nói vào ngày nay. Ông đã từng tình nguyện phục vụ ở Việt Nam và đã bị thương ba lần. Vì đã tổ chức phản đối chiến tranh cho các cựu chiến binh sau khi ra khỏi quân đội và thêm vào đó là đã xin phép được xuất ngũ trước thời hạn “vì lương tâm”, nên các đối thủ chính trị trong lần tranh cử vào thượng nghị viện đã chế nhạo ông là một “người có cảm tình với cộng sản” và là “một kẻ phản bội”.

Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters
Ông John Kerry nói chuyện với những người tham gia và ủng hộ chiến dịch rút quân nhanh chóng khỏi Việt Nam (RAW – Rapid American Withdrawal) tại Valley Forge vào ngày 7 tháng 9 năm 1970. Hình: Reuters

Nhưng cả những lời nói xấu như vậy rồi cũng tắt dần – chúng thiếu điểm tựa. Giới công khai đã nhanh chóng đẩy “Việt Nam” và tất cả những gì có liên quan tới đó đi mất tích, nhiều năm trời đã không còn muốn biết gì về nó nữa.

“Hầu như là chỉ qua đêm, Việt Nam đã biến mất ra khỏi nhận thức của quốc gia”, nhà xuất bản tân thủ cựu Norman Podhoretz ngạc nhiên. Không một tướng lĩnh, không một đô đốc nào từ chức sau chiến bại đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của Hoa Kỳ. “Mất trí nhớ tập thể”, tờ “New York Times” đã chẩn đoán thời đó. Nhưng sự bất hạnh đó quá lớn để mà có thể được chôn vùi mãi mãi: Việt Nam lại quay trở lại như một cơn ác mộng không để cho người ta xua nó đi. Trước đây [1985] vài tuần, trong một vụ thưa kiện do ông khởi tố chống đài truyền hình CBS, viên tư lệnh Việt Nam Westmoreland đã phải để cho người ta chứng nhận, rằng vì những lý do về chính trị mà đã xử lý một cách cẩu thả việc đánh giá kẻ địch qua thống kê. Trong lúc đó, Westmoreland khẳng định rằng không ai được phép hoài nghi lòng yêu nước của ông – một kẻ thua trận bi đát, người vẫn còn chưa biết tại sao ông không thể chiến thắng được.

“Liệu chúng ta có học hỏi được điều gì theo nghĩ luân lý hay không”, cố vấn cho Kennedy và cũng là sử gia Arthur Schlesinger hoài nghi trước những viên tướng lĩnh như vậy. Có thể là “nước Mỹ giờ đây cũng biết rằng lỗi lầm đó to lớn cho tới chừng nào, muốn đóng vai trò của Chúa Trời trong lịch sử của loài người”.

Thật sự là sẽ không ai thừa nhận lỗi lầm này. Các thượng nghị sĩ và hạ nghị sĩ Hoa Kỳ, ngoài ra thì bao giờ cũng cảm ơn mỗi một lần xuất hiện ăn ảnh trong các ủy ban điều tra của Quốc Hội, sau 1975 chưa từng bao giờ yêu cầu một tòa án Việt Nam duy nhất, mà lại tuyên truyền cho sự quên lãng.

Phung phí 150 tỉ dollar trong chiến tranh? Không một nghị sĩ nào còn hỏi về việc này. Bốn triệu người Việt chết và bị thương? Hãy quên đi! Một quân đội Mỹ, gồm cho tới 80% là những lãnh chúa cung ứng, vua ở hậu phương và hoàng đế sòng bạc, một quân đội mà trong đó chưa từng bao giờ có nhiều hơn 80.000 người lính đứng thật sự trong các lực lượng chiến đấu? Không đáng giá để nói tới!

Trong từ ngữ của nguyên trưởng phái đoàn đảng Dân Chủ trong Thượng Viện, Mike Mansfield: “Ngẫm nghĩ về những gì có thể hay cần phải trong quá khứ thì không giúp được gì cho ai cả.”

Tổng thống Jimmy Carter của đảng Dân Chủ tuyên bố năm 1977, chỉ vài giờ sau khi vào Tòa Nhà Trắng, rằng đã tới lúc “đi tới kết thúc với cuộc Chiến tranh Việt Nam”. 500.000 “người phản bội” đó, những người trốn ra nước ngoài để tránh không phải đi lính, nhất là sang Canada, nên trở về nhà. Ngay những người đào ngũ cũng có thể hy vọng được khoan hồng. Carter: “Tôi không cảm thấy muốn trừng phạt bất kỳ một ai cả.” Và: “Toàn bộ sự việc bây giờ đã qua rồi.”

Ba năm sau lời kêu gọi ân xá Việt Nam của Carter, Ronald Reagan bắt đầu một giọng nói mới trong một bài diễn văn trước “Veterans of Foreign Wars”: “Chúng ta đã sống quá lâu với hội chứng Việt Nam.” Đã tới lúc xét lại lịch sử, đã tới thời điểm của bước ngoặc bảo thủ: “Lòng yêu nước mới” (Reagan)  hóa ra là lòng yêu nước cũ.

Đối với tổng thống Mỹ, kẻ thù tiếp tục có tên là Việt Nam. Không có quan hệ ngoại giao giữa các đối thủ trong cuộc chiến. Cố vấn của Reagan nhắc tới hơn 2400 người Mỹ mất tích và tù binh mà trong đó có thể là Hà Nội đang giữ lại một số. Họ dẫn ra việc quân đội Việt Nam chiếm đóng Campuchia, họ nhắc tới những trại giam mà đối thủ chính trị của chính quyền Hà Nội bị giam giữ ở trong đó từ một thập niên nay.

Những người ủng hộ cho “thuyết Domino”, chỉ nhìn Nam Việt Nam như một quân cờ mà một khi nó đã ngã xuống thì sẽ giao trọn toàn khu vực về cho cộng sản, có đúng không?

Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.
Tháng 4, 1997, Vietnam Veterans Memorial tại Washington, DC. Hình: Joseph Sohm / Visions of America / Corbis.

Cựu tổng thống Richard Nixon quả quyết trong tác phẩm “No More Vietnams” của ông: “Ngày nay, sau khi chính quyền cộng sản đã giết chết trên nửa triệu người Việt và trên hai triệu người Campuchia, lời phán xét luân lý cuối cùng về những cố gắng của chúng ta để cứu thoát Campuchia và Việt Nam: Chúng ta chưa từng bao giờ chiến đấu cho một sự việc có nhiều đạo lý hơn thế.”

Thật sự rằng việc bỏ bom để “cứu nguy Campuchia” của Mỹ đã nâng những người đó lên, những người cần phải được “cứu thoát”; sự thật cũng là, những con người đen tối như các ông chủ Sài Gòn Tướng Kỳ, Tướng Khánh và cuối cùng là Tướng Thiệu là biểu tượng cho tất cả, chỉ là không cho đạo đức.

Thế nhưng không còn có thể ngăn chận sự thành hình của huyền thoại Việt Nam được nữa: nó là một hình thức đặc biệt của sự quên lãng – được nhặt ra từ ký ức tập thể chỉ là những gì phù hợp vào trong một hình ành của tấn thảm kịch Việt Nam vô tội.

Vết dơ trên bức tranh chiến trận được xóa đi: Thiếu úy William Calley, người đã giết chết ít nhất là 22 người dân thường tại làng Mỹ Lai ở Việt Nam trong tháng Ba 1968 và đã bị xử tù chung thân năm 1971 vì việc này, được tha tội. Người lính này phải chịu ba năm quản thúc tại gia.

Trung tướng W. R. Peers, người được Lầu Năm Góc giao nhiệm vụ làm sáng tỏ bối cảnh của vụ thảm sát, sau này đã bày tỏ sự phẫn nộ của mình trong một bản báo cáo do ông viết về “sự bất lực của hệ thống quân pháp, trừng phạt có hiệu quả những người hoặc là bị cáo buộc đã phạm tội ác chiến tranh hoặc là không báo cáo và điều tra những tội phạm như vậy”. Và: “Chúng ta rõ ràng là không đo chúng ta với cùng một thước đo mà chúng ta đo địch thủ.”

Cũng được tha thứ là hành động của viên sếp cảnh sát Sài Gòn, Nguyễn Ngọc Loan, người trong trận tổng tấn công dịp Tết 1968 đã ấn khẩu súng ngắn vào thái dương của một Việt Cộng bị bắt và bắn chết người này trước ống kính của một nhiếp ảnh gia AP. Người chụp bức ảnh đó được trao giải Pulitzer cho tấm hình đó, người sếp cảnh sát trong giờ phút cuối cùng đã có thể chạy thoát qua Mỹ với vợ con và sở hữu một quán ăn ở Burke, Virginia.

Ngược lại, các cựu chiến binh đã bị bỏ quên, những người rơi vào cảnh nghiện rượu hay ma túy ở Đông Nam Á, phát rồ vì những tưởng nhớ, ác mộng, tội lỗi đè nặng lên họ. “Đa số người dân của chúng ta”, nghị sĩ David Bonior thuộc đảng Dân Chủ quả quyết, “muốn nhất là chôn sâu tấn bi kịch Việt Nam và xóa sạch đi lịch sử”.

(Còn tiếp)

Phan Ba dịch từ báo Der Spiegel số 16/1985:

http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-13512807.html

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

2 thoughts on “Bài học của ngọn đồi Thịt Băm (phần 2)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s