Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 2)

Trong khi giới nhà báo tranh luận về các lựa chọn, ở lại Sài Gòn và trải qua lần quân đội Việt Cộng tiến quân vào, hay để cho chở đi bằng máy bay và chấm dứt nhiệm vụ của họ ở Việt Nam với câu chuyện di tản, thì các nhà ngoại giao của đại sứ quán Mỹ hy vọng có thể tránh được cuộc di tản như là một kết cuộc nhục nhã, giống như bỏ chạy. Thông tin từ hai nguồn đến với Graham Martin sếp của đại sứ quán Mỹ, gợi lên ý nghĩ phía cộng sản sẵn sàng đàm phán: từ nhóm Hungary của ICCS, Ủy ban Kiểm soát Quốc tế, và từ đại sứ quán Pháp.

Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình:  Nik Wheeler/CORBIS
Tháng Tư 1975, người dân chạy nạn về Sài Gòn. Hình: Nik Wheeler/CORBIS

Chính sếp CIA ở Sài Gòn đã tự mình bắt liên lạc với các sĩ quan Hungary. Thomas Polgar xuất thân từ một gia đình Hungary đã di cư sang Mỹ. Từ người đồng hương sang người đồng hương, người ta tin cậy thông báo rằng Hà Nội quan tâm tới một “giải pháp Lào”, để tránh một trận chiến trên đường phố ở Sài Gòn. “Giải pháp Lào”, đó là một chính phủ trung lập, bao gồm các nhân vật của “lực lượng thứ ba”, phe đối lập yếu ớt và bị coi thường cả một thời gian dài ở Sài Gòn, và tất nhiên là với sự hỗ trợ về ngoại giao của Liên bang Xô viết, Pháp và Liên hiệp Anh.

Nguồn thứ hai, dường như xác nhận các thông tin của người sếp CIA, bắt nguồn từ đại sứ quán Pháp – mà trong đó Jean-Marie Merillon, trong tinh thần của de Gaulle, đã tự mình tin rằng “Grande Nation” thêm lần nữa sẽ nhận được một vai trò lịch sử trong khoảnh khắc chiến bại của Mỹ. Merillon thông báo cho đại sứ quán Mỹ và một nhóm nhỏ các nhà báo, mà tiêu chuẩn của họ là có khả năng sử dụng tiếng Pháp một cách thanh lịch, rằng người cộng sản thông qua tiếp xúc với người Pháp đã đưa ra “giải pháp Lào”: tước quyền “bè lũ Thiệu”, thành lập một chính quyền trung lập, muốn hòa bình, dưới quyền “Big Minh” và ngưng chiến trước cửa ngõ Sài Gòn, để tạo cơ hội cho một hội nghị bốn bên bàn thảo một trật tự chính trị mới ở Nam Việt Nam.

Vòng vây bao quanh Sài Gòn càng siết chặt lại bao nhiêu thì các cố gắng đàm phán ngừng bắn của các chính trị gia và nhà ngoại giao càng tuyệt vọng bấy nhiêu. Vào ngày 26 tháng Tư, buổi chiều lúc ba giờ, Thiệu rời Sài Gòn tới Đài Loan. Kể từ lúc từ chức, ông cần năm ngày để xếp đồ đạc vào va li. Người dân Sài Gòn có một tưởng tượng thật chính xác về những gì đã được đóng vào trong đó.

Đài phát thanh của Mặt trận Giải Phóng từ chối lời đề nghị ngừng bắn của phó tổng thống Trần Văn Hương. Hương đại diện cho một “chế độ Thiệu không có Thiệu”. Một chính phủ trung lập phải được thành lập và dẫn đầu bởi “một nhân vật thật sự yêu chuộng hòa bình”. Và quân nhân Mỹ, hơn 5000 người, phần lớn là sĩ quan trong bộ tham mưu của DAO, Defense Attache’s Office hay cũng được gọi là “Lầu Năm Góc phương Đông”, phải rời đất nước này, như là điều kiện tiên quyết.

Vào ngày 26 tháng Tư, một ngày thứ bảy, vào cái ngày mà Thiệu rời bỏ đất nước, Quốc Hội đã họp trong một ngôi nhà tối tăm hôi mốc ở khu cảng, để nhất trí ủy quyền cho phó tổng thống Hương tự chọn một người kế nhiệm theo ý muốn của ông, không cần quan tâm tới các quy định của hiến pháp Nam Việt Nam. Trần Văn Lắm, chủ tịch thượng viện, theo hiến pháp lẽ ra là người kế đến. Nhưng là “người của Thiệu” thì ông không có cơ hội được phía cộng sản chấp nhận là “một người thật sự yêu chuộng hòa bình”.

Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa biểu quyết yêu cầu Tổng thống Trần Văn Hương nhượng quyền lại cho tướng Dương Văn Minh. Hình: AP Photo/Errington.
Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa biểu quyết yêu cầu Tổng thống Trần Văn Hương nhượng quyền lại cho tướng Dương Văn Minh. Hình: AP Photo/Errington.

Dương Văn Minh, được gọi là “Big Minh” vì có thân hình to lớn, cần phải là người tổng thống mới. “Big Minh” đã đóng một vai trò chủ chốt trong lần lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963 và qua nhiều năm trời đã đứng vào phía đối lập với Thiệu. Không ai biết rõ là phe đối lập này thật ra là bao gồm những ai. Nhưng hầu như tất cả mọi người đều tin chắc rằng “Big Minh” có thể cứu thoát Sài Gòn trong thời điểm nguy cấp.

Đại sứ Pháp và Mỹ tin là đã giật dây để cho “Big Minh” bước ra hoạt động. Vào tối ngày chủ nhật, Graham Martin thuyết phục thành công người tổng thống được bổ nhiệm, không cương quyết yêu cầu giới quân đội Mỹ rút quân ngay lập tức. Khoảng cùng thời gian đó, Jean-Marie Merillon vào gặp đại diện phe cộng sản, sau hiệp định ngừng bắn 1973 đang ở trong khu vực an ninh của phi trường Tân Sơn Nhứt của Sài Gòn, để tự mình thăm dò cơ hội của một “chính phủ hòa bình Big Minh” qua sếp của phái đoàn, đại tá Võ Đông Giang, một con người khó tính, giống như một cái máy nói không có xúc cảm.

Merillon được thông báo cần phải gấp rút; người Mỹ phải rút lui ngay lập tức; phải tước quyền “bè lũ Thiệu” và thay thế ở hàng đầu bởi những người ái quốc yêu hòa bình. Tuy vậy, viên đại tá bất thân thiện đó không trả lời cho câu hỏi mang tính quyết định: liệu một chính phủ do Big Minh đứng đầu có được chấp nhận như là đối tác để đàm phán một giải pháp chính trị hay không.

Mặc dù không có được sự chắc chắn cuối cùng này, Martin, Merillon và những người đi theo “Big Minh” vẫn bắt đầu làm việc để cứu thoát Sài Gòn ra khỏi một cuộc chiến và cứu thoát Phương Tây khỏi nỗi nhục nhã của một lần đầu hàng vô điều kiện. Sự lạc quan của họ được nhiều người chia sẻ, chính là những nhà quan sát chính trị đó, những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nhân vật chính, tự biến mình trở thành những người đồng lõa, và tin tưởng vào những cảm nhận cá nhân ít hơn là vào các phân tích của những người giật dây.

Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình: AP Photo/Hoanh
Quân lính Nam Việt Nam và nhóm phóng viên truyền hình Phương Tây tìm chỗ trú ẩn trước đạn pháo của người Bắc Việt ở cầu Tân Cảng, Sài Gòn, 28 tháng Tư 1975. Hình: AP Photo/Hoanh

Lần trao quyền lực từ Hương sang “Big Minh” được dự định vào chiều ngày thứ hai, 28 tháng tư. Hàng ngày, “Airlifter”, máy bay vận tải phản lực của Không quân Mỹ, đến Sài Gòn để chở “những người bị nguy hiểm đặc biệt”. Khoảng 5000 người Việt rời đất nước mỗi ngày. Cảnh chen lấn và xô đẩy của những người tìm chốn tỵ nạn trước tòa đại sứ quán Mỹ hầu như không còn thể điều chỉnh được nữa. Những người muốn chạy trốn cảm thấy một sự khẩn cấp gây tuyệt vọng. Xe tăng cộng sản đã đứng trước cửa ngõ Sài Gòn, và mặc dù vậy, các cơ quan lãnh sự Mỹ vẫn khăng khăng yêu cầu giữ đúng quy trình nhập cảnh phức tạp. Tuy vào lúc này phần lớn các quốc gia Phương Tây đã di tản các đại sứ quán của họ và quẳng các dự trữ rượu mạnh ra thị trường với giá vứt đi, người Mỹ, được dẫn đầu bởi Graham Martin và Thomas Polgar, vẫn còn tin có thể trì hoãn được chiến dịch di tản đường không quy mô lớn đã được lập kế hoạch, vì một giải pháp chính trị bắt đầu hiện hình, cứu Sài Gòn thoát khỏi sự hoảng loạn và khốn cùng của một cuộc chạy trốn.

Vào sáng chủ nhật, hai giờ trước khi mặt trời mọc, quân đội cộng sản bắn vài hỏa tiển vào nội thành, rơi xuống gần đại sứ quán Đức ở vùng ranh giới giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, khu phố người Hoa, và gây ra một vụ cháy lớn kinh hoàng. Từ hơn ba năm nay, Sài Gòn không còn bị bắn phá trực tiếp nữa. Các hỏa tiển này, đi kèm theo đó là một tiếng nổ thật lớn, đã để cho người dân nhận thức được rằng màn cuối cùng của cuộc bao vây, đánh chiếm thủ đô, đã bắt đầu.

Chỉ các nhà ngoại giao có nhiều quyền lực và ảnh hưởng trong đại sứ quán Mỹ và Pháp là vẫn không muốn đọc những dấu hiệu ở trên tường đó. Các tín hiệu của phía bên kia cũng có thể được hiểu, rằng Hà Nội chỉ muốn thúc giục tăng tốc quá trình chính trị. Người cộng sản, Graham và Merillon cam đoan lẫn nhau như vậy, sẽ “mất thể diện”, nếu như họ cố tiến quân đánh chiếm thành phố Sài Gòn ba triệu dân trước con mắt của thế giới. Qua nhượng bộ chính trị, cả hai người đều có ý như vậy, có thể giành được một thỏa hiệp hợp lý từ những người cộng sản.

Sài Gòn, 21 tháng Tư 1975. Lần bắn hỏa tiển đầu tiên là vào lúc 4 giờ 30 sáng, đánh vào trung tâm Sài Gòn và đốt cháy 150 căn nhà bằng gỗ. 14 người chết và hơn 40 người bị thương. Hình của Jacques Pavlovsky / Sygma / Corbis.
Sài Gòn, 21 tháng Tư 1975. Lần bắn hỏa tiển đầu tiên là vào lúc 4 giờ 30 sáng, đánh vào trung tâm Sài Gòn và đốt cháy 150 căn nhà bằng gỗ. 14 người chết và hơn 40 người bị thương. Hình của Jacques Pavlovsky / Sygma / Corbis.

Trong những năm dài của chiến tranh, những lý luận tương tự như vậy đã được các chính trị gia phe Tự do đưa ra ở nhiều nơi. Cho tới thời điểm đó, Hà Nội vẫn không đưa ra một bằng chứng nào cho việc này. Mang đặc tính của một “sự ngờ vực gần như là bệnh hoạn” đối với phần còn lại của thế giới và đồng thời là của một “sự tự mãn hoang dại cuồng nhiệt” (như Henry Kissinger sau này ghi lại trong hồi ký của ông), chiến lược đàm phán cố chấp của người Bắc Việt, không đưa ra điều gì và yêu cầu mọi thứ,  cho tới nay không đưa ra bằng chứng nào cho việc rằng thỏa hiệp và nhượng bộ có thể ngăn cản Hà Nội “giải phóng” miền Nam và thống nhất đất nước thành một Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mặc dù vậy, Hiệp định Paris của tháng Giêng 1973 vẫn được kiến lập trên những tiền đề này, trên giả định rằng Hà Nội sẽ chấp nhận sự tiếp tục tồn tại của một nhà nước ở miền Nam. Việc Hà Nội từ bỏ xâm chiếm miền Nam được mua bằng triển vọng hai tỉ dollar viện trợ kinh tế. Cho tới thời điểm này, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, Hà Nội chỉ chứng tỏ rằng những tiền đề của hiệp định chính trị là một ảo tưởng thuần túy. Không một lời hứa nào và không một lời đe dọa nào có thể ngăn cản Bộ Chính trị ở miền Bắc hoàn thành nhiệm vụ của Hồ Chí Minh và “giải phóng” miền Nam.

Bây giờ, xe tăng của Cách Mạng đã đứng ở rìa thành phố. Mùa khô đã qua, mùa mưa có thể bắt đầu vào bất cứ ngày nào và sẽ gây khó khăn lớn cho các chiến dịch quân sự. Nằm trong đường lối chiến lược cho tới nay của Hà Nội là thủ tiêu phần còn lại của quốc gia Sài Gòn với một cú đánh trúng đích, tận hưởng chiến thắng quân sự, thay vì cho phép có “tương quan  Lào” và qua đó còn mang cả người Pháp và người Nga lên sân khấu như là những người mang lại hòa bình nữa.

Việc đó minh chứng cho sức mạnh của ảo tưởng, rằng ngay cả trong Sài Gòn bị bao vây, hiện giờ bị cô lập khỏi phần còn lại của đất nước, trong tầm nhìn thấy xe tăng của đối phương, mà một kế hoạch hòa bình trên phương diện chính trị vẫn có thể thành hình được, cái tất nhiên là đòi hỏi chế độ ở miền Nam phải hy sinh nhiều nhất, tức là phải tự phá hủy trật tự cho tới nay. “Bè lũ Thiệu”, “chế độ bù nhìn”, phải bị hủy bỏ. Graham Martin, đại sứ Mỹ, đồng ý. Vào chiều ngày thứ hai, 27 tháng Tư, phó tổng thống Hương sẽ từ chức và trao quyền lại cho “Big Minh”.

23 tháng Ba 1964, Tướng Minh bắt tay bác sĩ Lê Khắc Quyến, một thành viên trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia.
23 tháng Ba 1964, Tướng Minh bắt tay bác sĩ Lê Khắc Quyến, một thành viên trong Thượng Hội Đồng Quốc Gia.

Các chính trị gia tiến hành sự việc với vận tốc của con ốc sên, trong khi tướng lãnh Bắc Việt, ở Sài Gòn ai cũng nhận thấy, rõ ràng là thúc giục một quyết định. Cả ngày lẫn đêm đều nghe được tiếng “womp-womp-womp” của đạn pháo. Bây giờ tiếng súng nổ lớn nhất là từ hướng phi trường, nơi những chiếc máy bay di tản của cái cầu hàng không nhỏ bé vẫn còn có thể hạ cánh mà không bị bắn phá. Người dân Sài Gòn dao động giữa hy vọng và tuyệt vọng. Cuối cùng thì người Mỹ có chở hết tất cả những người Việt nào muốn đi hay không? Có lẽ cuộc chiến sẽ chấm dứt với một thỏa hiệp chính trị.

Khi một phóng viên nổi tiếng từ giã bạn bè vào buổi tối, vì “giải pháp Lào” cho phép ông bay về quê hương để hoàn thành một phim tài liệu rồi sau đó quay trở lại Việt Nam, thì một người bạn nói với ông ấy rằng hãy quên cái tên Sài Gòn trong lúc đó đi, vì cho tới chừng đó thì người cộng sản đã chiếm được thành phố, và đổi tên nó thành Thành phố Hồ Chí Minh rồi. Đó là “tuyên truyền của CIA”, người này rít lên vì giận dữ. Ý thức lịch sử của người Việt sẽ để cho một lần đổi tên như vậy trở nên vô lý. Cuộc thảo luận dường như tình cờ đã trở nên dữ dội cho tới mức buổi tiệc từ giã kết thúc sớm hơn dự định.

Ai cho rằng người cộng sản quyết định chấm dứt cuộc chiến đẫm máu với hơn một triệu nạn nhân bằng một chiến thắng quân sự, và sau đó tạo dựng ở miền Nam những điều kiện giống như ở Bắc Việt Nam, kể cả những giới hạn cho giới báo chí nước ngoài, thì ngay trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, người đó vẫn phải chịu đựng sự nghi ngờ, là đã trở thành một nạn nhân của tuyên truyền Mỹ. Nhưng cuộc tranh cãi của các ý kiến đã được nhanh chóng quyết định ngay sau đó.

(Còn tiếp)

Winfried Scharlau

Phan Ba dịch từ báo Die Zeit, số 18, ra ngày 26/04/1985:

http://www.zeit.de/1985/18/die-letzten-tage-von-saigon/komplettansicht

Đọc những bài khác ở trang Chiến tranh Việt Nam

 

Advertisements

12 thoughts on “Những ngày cuối cùng của Sài Gòn (phần 2)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s