Chuyến tàu nhanh đi vào tương lai

Bernd Schiller

Phan Ba trích dịch từ “Vietnam – Ein Reiselesebuch” [“Việt Nam – Một tuyển tập truyện du lịch”]

Còn ba giờ nữa, cho tới khi chuyến tàu đêm khởi hành về phương Nam. Thủ đô Hà Nội sôi sục như mọi đêm. Hàng ngàn người đẩy nhau qua những con ngõ sau giờ làm việc, khéo léo tránh né dòng dường như bất tận của những chiếc xe gắn máy, mô tô và ngày càng nhiều ô tô hơn. Nhiều người đi và chạy bộ vòng quanh lăng của Hồ Chí Minh, những người tập Thái Cực Quyền đang lợi dụng không khí nhẹ như tơ của buổi chiều muộn để luyện tập. Cảnh tượng giống như từ trong những phim châu Á cũ lấp lánh qua hoàng hôn ngắn ngủi:  Ở đó là những chiếc xe xích lô cuối cùng đang chen qua đám đông, cầm tay lái là những người đàn ông gầy gò với khuôn mặt có nhiều vết nhăn. Ở đó là những người đang gánh nặng, đang len lỏi qua luồn giao thông với những bước chân nhún nhảy, giữ cân bằng trên vai những cái thúng nặng bằng cây đòn gánh bằng tre. Nhiều người làm việc công nhật này đội mũ cối nàu xanh ô liu, phụ nữ trẻ tuổi hơn trên xe đạp thì lại đội nón lá, như chúng đã trở thành biểu tượng của người Việt Nam qua những tấm ảnh trên đồng ruộng.

Người ta hay chen nhau đứng lại trước cửa hàng và xưởng làm, như  trong con ngõ của những người đẽo đá chẳng hạn, nơi các góa phụ và những thân nhân khác đang trông chừng tấm bia đá đang được hoàn thành một cách đầy nghệ thuật. Hay trước hàng trưng bày của tiệm bán nữ trang, có nhiều cửa hàng loại này cho tới mức đáng ngạc nhiên, trước những hàng ăn và những cửa hàng tạp phẩm. Nhìn lần đầu thì trông có vẻ như nguy hiểm chết người, khi đi qua đường trong những thành phố lớn của đất nước này; chỉ sau hai, ba ngày thì nó trở thành một thách thức về mặt thể thao. Cả trên những con đường dành cho người đi bộ cũng chỉ tiến lên được một cách chậm chạp, nhưng, dù nghe có vẻ mâu thuẫn cho tới đâu đi chăng nữa, đó là một sự đưa đẩy và chen chúc thong thả. Người ta tránh né giống như trên một ngã tư có nhiều giao thông: mỉm cười, nhảy múa, gần như là có nhịp điệu.

Gần tám giờ, trời tối đã hai giờ đồng hồ rồi. Con tàu “Thống Nhất” bắt đầu giật giật chuyển động. Bốn tới năm lần trong ngày, con tàu này nối kết thủ đô xưa cũ của văn hóa và chính trị với thủ đô mới của tiến bộ và kinh tế. Con tàu mất ba mươi tới bốn mươi tiếng để đi từ Hà Nội vào tới Sài Gòn – một khả năng lý tưởng để có một cái nhìn đầu tiên tới các phong cảnh khác nhau giữa Bắc và Nam, và tham quan các điểm du lịch ở cạnh tuyến đường sắt trong vài ngày, dành thời gian cho thành phố Huế của các hoàng đế ngày xưa, sau đó là Nha Trang, thành trì của du lịch, hay các bãi biển ở Phan Thiết. Từ đó, từ ga Mường Mán, chỉ còn bốn tiếng đồng hồ nữa là tới Sài Gòn. Nhưng chúng tôi đã quyết định dừng lại đầu tiên ở giữa đoạn đường, ở Huế: độ khoảng mười lăm tiếng đồng hồ, khoảng thời gian mà trong đó chúng tôi đã gặp rất nhiều người khác nhau, như chỉ có thể trong những chuyến đi dài trên tàu hỏa. Giường trong khoang bốn người của toa nằm đã được trải mới. Có hai người Pháp đang sắp xếp ở trên đầu chúng tôi, xoay ngang balô của họ để làm gối đầu. Một chai Merlot được chuyền đi và chẳng bao lâu sau đó là thêm một chai nữa, rượu vang do hai người đàn ông này mang theo. Chúng tôi chuyện trò với nhau chẳng bao lâu sau đó. Christian, vừa tròn bốn mươi, là thợ làm bánh pizza, Jean, gần sáu mươi, là nhân viên ngân hàng và đã bị đẩy đi về hưu sớm. Cả hai vừa mới ly dị xong, đã cắt đứt tất cả những sợi dây ràng buộc ở Paris và muốn bắt đầu một cuộc sống mới ở đây, nơi lần khởi đầu có thể cảm nhận được ở khắp mọi nơi và đặc biệt là dọc theo bờ biển dài, có thể là khai trương một quán pizza ở Nha Trang hay cho thuê ô tô ở Sài Gòn – để xem thế nào.

Việt Nam vẫn còn là một đất nước cho những người tiên phong, cho những người muốn bắt đầu mới, cho những người mang theo sự táo bạo nhiều hơn là tiền bạc. Bầu không khí đi tìm vàng của những năm 1990 tuy là đã qua rồi, nhưng những người giúp các nước đang phát triển, những người đang ở tại chỗ của các ngân hàng nước ngoài và giai cấp mới của các doanh nhân trong nước vẫn còn nhìn thấy nhiều tiềm năng cho người Việt và cho những người như Christian và Jean. Giới trung lưu đang tăng lên, lối suy nghĩ tích cực, vốn có của đất nước này và người dân của nó, lan truyền đi.

Đoàn tàu thở hổn hển đi qua những khu phố ngoại ô Hà Nội. Không còn nhìn thấy gì nhiều ở ngoài kia nữa, chỉ còn một vài điểm sáng lập lòe đó đây, đèn đỏ ở những thanh chắn. Người soát vé cười vui vẻ quẳng vào khoang tàu vài tấm chăn. Chúng tôi sẽ cần tới chúng: chiếc quạt máy thổi khí lạnh như băng từ trên trần xuống suốt cả đêm, không thể chỉnh nó được, chỉ có thể tắt đi; nhưng rồi thì gian phòng chật hẹp sẽ đầy không khí nóng ngột ngạt ngay lập tức.

Hình ảnh của những ngày vừa qua chen nhau ra trước mắt. Ở đó là thế giới kỳ diệu của vịnh Hạ Long, với bao nhiêu là thuyền tam bản và tàu du lịch vẫn không mất đi tí nào nét quyết rũ của nó. Ở đó là những chiếc xe ngựa và xe bò trên những con đường nhỏ bụi bặm, và giao thông dày đặc trên con đường vào cảng container Hải Phòng. Ở đó là những cảnh tượng bình yên ở trên cạn trong vịnh Hạ Long với những tảng núi đá và núi đá vôi đã bị phong hóa, nhô lên cao từ những cánh đồng trồng lúa. Và ở đó là lần đi thăm gia đình nhà nông trong vùng đất đầm lầy màu mỡ của sông Hồng, kho lương thực của miền Bắc.

Duong Dinh Dang sống với năm người con của ông ở Kim Son. Ông trồng lúa và bắp ở đó, cũng nuôi vài con heo và gà. Chúng tôi được chào đón với trà xanh và một nụ cười, trong một gian phòng có đồ đạc hết sức đơn sơ, nơi thức ăn cho heo đang được nấu trên một bếp lửa cạnh tấm đệm ngủ. Cái máy truyền hình kiểu cũ từ Đông Đức, do một người láng giềng đã làm việc một vài năm ở Dresden mang về, đã hư từ lâu rồi; không có tiền để sửa chữa. Từ khi người vợ của ông Duong qua đời, người đàn ông già này hầu như không còn có thể làm xuể công việc trong nhà và ngoài đồng nữa. Tất cả những đứa con đều phải giúp việc, cả đứa cháu tám tuổi.

Sau bảy giờ một chút, toa tàu trở nên sống động, đoàn tàu ngừng lại ở đâu đó trên nhà ga tỉnh của Đồng Hới. Ở bên ngoài, một mặt trời mờ nhạt đang cố gắng xuyên thủng qua lớp mây sương mù bao phủ vùng đất như một tấm màng mỏng nứt rạn. Đã đến lúc vệ sinh buổi sáng: lau rửa như mèo ở một cái bồn dơ bẩn, súc miệng bằng nước khoáng mà rõ ràng là ai cũng đã mang theo. Một thằng bé đẩy một cái xe qua lối đi. Anh chàng bán cà phê đen, đậm đặc với giá rẻ. Bánh mì đã mềm được phát không mất tiền, cả những viên tàu hũ khô nữa.

Người ta không nhất định phải tham quan Đồng Hới. Nhưng trong tất cả sách Địa lý của học sinh Việt Nam thì nó đều xuất hiện: vì Đồng Hới nằm ở nơi hẹp nhất của đất nước này. Ở đây, nó thắt lại thành cái lưng ong, chưa tới năm mươi kilômét từ những ngọn núi của Lào ở phía Tây cho tới những bãi biển còn ban sơ ở phía Đông của thành phố. Nơi này đã phải chịu đựng nhiều trong chiến tranh, chỉ còn lại một cái cổng duy nhất từ một thành trì cũ, hầu như chẳng còn lại gì từ khu phố thuộc địa của người Pháp, chỉ còn cái tháp cụt đổ nát của một ngôi nhà thờ nhô lên khỏi khu phố mới xây buồn tẻ.

Ngồi cách chúng tôi vài khoang, trong cùng toa tàu, là Võ Quý, một người đàn ông tóc trắng, mang vẻ đáng kính. Ông ấy vui mừng khi chúng tôi tìm đến nói chuyện với ông. Người ta gọi ông là người cha đẻ của phong trào bảo vệ môi trường Việt Nam, ông thuật lại với một niềm hãnh diện có hơi rụt rè. Và rồi ông lôi từ trong túi ra một bài báo của Time Magazine ở Mỹ. Trong đó, tháng Mười Hai 2008, người ta đã xếp ông vào trong số ba mươi lăm người anh hùng của phong trào xanh trên khắp thế giới. Nhiều năm trời, đồng ruộng và rừng núi là những nơi phải chịu đựng Agent Orange. Bây giờ, ông Võ Quý, với tám mươi tuổi vẫn không hề trở nên yên lặng, lên án những ô nhiễm do sự kỳ diệu kinh tế được thả lỏng gây ra, ông khiển trách việc buôn bán lậu gỗ và thảo hoang hóa những cánh rừng ngày xưa.

Tuy là môi trường ở Việt Nam không bị phá hủy một cách không thương xót như ở Trung Quốc, người chống đối chế độ cộng sản không bị đàn áp một cách trắng trợn và tàn bạo như ở người anh không được ưa thích. Nhưng ở đây, đôi lúc các luật sư nhân quyền, người của các đảng dân chủ (bị cấm hoạt động), các nhà nghệ thuật phê phán và những người bất đồng chính kiến khác cũng bị kết án nhiều năm tù. Các vụ án này có tiếng vang ở Pháp nhiều hơn là ở Đức rất nhiều. Cả việc chỉ đạo nhà thờ, trước hết là nhà thờ Công giáo mà cho tới nay người ta vẫn còn không tha thứ cho sự trung thành của họ với Nam Việt Nam trong thời chiến, cũng chỉ được các nhà quan sát có nhiều quan tâm biết tới. Doanh nhân ngoại quốc ở tại chỗ vui mừng khi ngày càng có ít rào cản quan liêu được dựng lên cho họ, phần lớn khách du lịch hẳn sẽ cảm thấy là điều tất nhiên cũng như dễ chịu, khi được phép đi lại tự do và không có những tấn bi kịch tầm cỡ như Tây Tạng hay của lần nổi dậy của người Uyghur đè nặng lên lương tâm của họ.

Thăm ngắn toa hạng ba. Có mùi hôi nồng, một sự pha trộn mùi thật dễ nổ trong toa tàu đầy người: mùi tỏi, mùi mồ hôi chân, mùi tả lót đã đầy. Một vài người già không còn răng và nhiều gia đình trẻ đi lại với giá rẻ ở đây; vài người ngồi co chân lên các băng ghế, những người khác nằm ngang nằm dọc để ngủ, cả trên lối đi. Và rồi còn nhiều hành khách nữa đang ăn uống, chơi bài, nghe nhạc từ máy Walkman. Một cô gái cố gắng nói chuyện với chúng tôi bằng vài câu tiếng Anh. Cô mười chín tuổi, chúng tôi nghe được như vậy, và cha mẹ, người cha là công nhân xây dựng ở Hà Nội, người mẹ là đầu bếp, khó khăn lắm mới cho phép cô đi xa. Truyền thống vẫn còn quyết định phần lớn các phép tắc, cả ở giới trẻ đô thị. Ba phần tư người Việt có tuổi dưới ba mươi. Không một quốc gia châu Á nào trẻ hơn; giới trẻ này được che chắn và bảo vệ bởi gia đình và quy tắc, cho tới khi họ lập gia đình và nhiều khi còn đi xa hơn thế nữa.

Đoàn tàu tiếp tục lăn bánh về phương Nam, qua những ngôi nhà tre, trâu bò và đồng lúa, qua những cây cầu trông giống như vừa mới được tạm thời vá víu lại vào ngày hôm qua. Thật sự là phải sửa chữa một ngàn ba trăm cây cầu, hai mươi bảy đường hầm, một trăm năm mươi tám nhà ga và một ngàn ba trăm bảy mươi ghi đường sắt, trước khi con tàu “Thống Nhất” lần đầu tiên khởi hành đi trên chặn dường dài từ Hà Nội tới Sài Gòn vào ngày cuối cùng của năm 1976, một ngàn năm trăm kilômét trong khoảng bốn mươi lăm giờ đồng hồ. Và hố bom vẫn còn để lại dấu ấn trên cảnh quang qua nhiều đoạn dài.

Chúng tôi thăm Elisa và Erica ở toa kế, hạng nhì. Hai cô sinh viên người Ý đang đi du lịch khắp thế giới, chúng tôi đã gặp họ một lần trước đây vài ngày trong vịnh Hạ Long, đã trả ba mươi euro cho chuyến đi tới Huế. Họ ngủ ngồi cũng không tệ hơn chúng tôi trên những cái “giường” cứng của chúng tôi, những cái có giá đắt gấp đôi. Tiếp theo đó hai toa nữa, trong hạng “bình dân”, hành khách trong nước đang thưởng thức vào lúc sáng sớm thịt gà nguội lạnh, hàng núi cơm và trái cây tươi, những thứ mà họ đã mua ở nhà ga trước đó từ người bán. Và trong toa cuối cùng, lại là toa hạng nhất, có một người phụ nữ đang nhấp trà xanh của bà, tự giới thiệu mình là Minh Hạnh, một người thiết kế thời trang từ Sài Gòn.

Người phụ nữ xinh đẹp này qua lại giữa Việt Nam và châu Âu suốt cả năm, khai trương một chi nhánh ở Paris, thương lượng ở New York, xem một buổi biểu diễn thời trang hấp dẫn ở Tokio. Khách hàng của bà, fan của bà sống ở Đức, Tây Ban Nha hay Thụy Điển. Vì bà thường phải đi máy bay nhưng lại không thích làm điều đó, nên ở quê hương thì bà lại càng thích đi tàu lửa hơn. Đối với Minh Hạnh thì chiếc áo dài, chiếc áo váy cổ truyền và nữ tính tuyệt diệu của phụ nữ Việt Nam, là một niềm “hạnh phúc cổ”. Bà luôn thận trọng biến đổi nó, tìm kiếm và tìm thấy những mẫu hình mô tả mới mà không thật sự làm biến đổi tính thanh lịch dịu dàng của nó. Bà mua lụa ở Hà Nội trong những ngày vừa rồi, đã đi tham quan triển lãm tranh và hòa nhạc. Tuy bà không phải là không thích sống ở Sài Gòn hối hả, nơi chồng bà làm việc như là một phóng viên truyền hình nổi tiếng khắp nước, nơi cả hai người, thành viên của giới trung lưu cao cấp mới, có nhiều mối quen biết. Nhưng bà luôn vui mừng, ba tới bốn lần trong một năm, trước bầu không khí sáng tạo và gợi nhiều cảm hứng cho bà ở Hà Nội.

    Trong tàu đã trở nên yên lặng hơn, tiếng lách cách khiến cho người ta buồn ngủ. Thống Nhất, tên chuyến tàu nhanh của chúng tôi trong ngôn ngữ của đất nước này, băng ngang qua một con sông với vận tốc của người đi bộ. Đất trông như đất sét ở hai bên bờ sông có màu vàng nâu, lúa ở đây đã được gặt rồi. Tiếp theo đó một ít về phía Nam, những người nông đân đã bước đi trên đồng ruộng sình lầy của họ với cái cày ở sau con trâu, và nửa giờ sau đó, chúng tôi nhìn những người phụ nữ còng lưng cấy mạ: ba thời vụ ở tại một buổi sáng.

Bây giờ chúng tôi lăn qua vĩ tuyến 17, nổi tiếng vì vùng phi quân sự trước đây. Cây dừa và màu xanh óng ánh của những cánh đồng lúa không còn để cho nhận ra, rằng vài kilômét về phía Bắc là một trong những vùng đất phải chịu đựng nhiều nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Hàng ngày, suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ và qua nhiều tháng trời, máy bay B-52 đã kéo những tấm thảm bom qua các ngôi làng nông dân và những vùng đất trồng của họ. Con người trốn xuống hầm và công sự, vào những cái hang động được phân chia hai mét vuông cho một gia đình. Ở đó, dưới ánh sáng nến, trẻ con được sinh ra đời và được dạy dỗ, thiếu niên được huấn luyện với vũ khí đã lỗi thời.

Vào buổi trưa, thức ăn được phân phát trên tàu: cơm âm ấm trong hộp styropor, rau cải, thịt gà, một vài sợi thịt bò. Bữa ăn trưa không mất tiền, nhưng chỉ được phân phát trong toa “hạng sang”, như Nguyễn, trưởng đội soát vé, gọi các toa tàu nằm và hạng nhất. Ông từ Huế, điểm đến trên đường di của chúng tôi. Chúng tôi muốn ở lại thành phố của những hoàng đế ngày xưa ba ngày, vì vậy mà chúng tôi rất vui khi có được những lời gợi ý của Nguyễn. Chúng tôi nhất định phải đi xích lô, tắc xi đạp, tới chợ ở bên kia sông. Chúng tôi sẽ tìm thấy tất cả màu sắc, mùi hương và âm thanh của đất nước này ở đó. Và chúng tôi phải đi thuyền nhỏ tới chùa Thiên Mụ, ngôi chùa đẹp nhất ở Huế, vào lúc thật sớm, trước khi đông đảo những đoàn khách du lịch tới đó. Từ một cái chuông thật to trong khuôn viên chùa, tiếng vang của nó xa cho tới hơn mười kilômét, chúng tôi có thể nhìn dọc theo dòng sông cho tới tận đồi núi của nước Lào láng giềng.

Nguyễn đội chiếc nón công vụ lên, chiếc tàu ken két hãm tốc độ. Những bảng quảng cáo to xuất hiện ở bên ngoài từ màu xanh của rừng nhiệt đới, Sony, Siemens và Toyota thông báo trước thành phố nửa triệu dân đang tăng trưởng rất nhanh ở cạnh dòng “sông của hương thơm”. Những khối nhà ở đẩy lùi nhà đơn sơ, người đi xe hai bánh kết lại thành đoàn, xe đủ loại dừng lại trước thanh chắn. Chúng tôi còn lăn qua chùa chiền và cây dừa vài trăm mét nữa. Rồi chiếc “tàu nhanh Thống Nhất” ngừng lại ở nhà ga Huế, mười lăm giờ hai mươi phút sau khi khởi hành từ Hà Nội.

Bernd Schiller, sinh năm 1943, phóng viên và biên tập viên của nhiều tạp chí và nhật báo lớn của Đức, đã đi qua tất cả các châu lục. Nhà báo sinh ở thành phố Hamburg này quan tâm nhiều nhất là đến những vùng đất ở giữa Bombay và Bali. Ông là tác giả của nhiều quyển sách, đặc biệt là về những điểm đến ở châu Á.

Đọc những bài khác về Việt Nam ở trang Quê hương Việt Nam

Advertisements

5 thoughts on “Chuyến tàu nhanh đi vào tương lai

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s