Một phần đã ở lại

‘Một ngày nào đó, khi đất nước này có hòa bình, tôi rất muốn quay trở lại đây’, viên phi công phụ đã nói như vậy. Cho tới chừng nào mà bạn vẫn còn bận bịu với cuộc sống hàng ngày, với sự nóng bức và với những khó khăn lớn nhỏ của công việc, thỉnh thoảng bạn lại ao ước có thể bỏ lại tất cả mọi thứ ở sau lưng và quay trở về châu Âu. Ngày trở về càng đến gần thì bạn lại càng buồn. Bất chợt, bạn nhận ra rằng những người bạn đó quý giá cho tới đâu, những người mà bạn đã có thêm được ở đất nước này, rằng bạn đã yêu quý con người ở đây cho tới đâu, mặc dù họ xa lạ tới như vậy, rằng đất nước này có ý nghĩa gì đối với bạn. Bạn bước xuống cầu tàu lần cuối cùng để đi ra phi trường. Con tàu bệnh viện, đối tượng của nhiều lo lắng và nguyên nhân của nhiều thất vọng cũng như của nhiều khoảng khắc vui mừng, nằm lại cạnh Quai Belgique, được buộc chặt ở đầu và đuôi tàu với ba sợi dây thừng ở mỗi nơi, cái bến tàu mà được giới nhà báo thích gọi là bến tàu của những người nổi tiếng, vì trong thời xưa cũ tốt đẹp, thật sự là chỉ có những chiếc tàu nổi tiếng nhất trong số những chiếc tàu vào đây mới được thả neo ở đó. Cho tới khi con tàu bệnh viện đến trong tháng 9 năm 1966, chủ yếu là vật liệu chiến tranh nặng được bốc dỡ ở đây, cạnh một trong số ít các bến tàu bằng bê tông vững chắc.  Chúng tôi đã nói đùa, rằng chỉ riêng việc chúng tôi làm cản trở việc đó với con tàu bệnh viện, chúng tôi đã giúp cho Việt Cộng nhiều hơn là cho người Mỹ.

Bạn đi ngang qua trạm canh gác của cảnh sát, kiểm soát lối lên tàu bệnh viện. Các viên cảnh sát đã xây một cái gì đó giống như một cái kiosque bằng ván và tôn với một cái bàn ở giữa mà họ ngồi đó để mơ mộng hay tán gẫu với nhau, nếu như không đang câu tôm với những sợi dây mỏng và lưỡi câu tự tạo. Vì gỗ trôi giạt và thân cây dừa được nước đưa đẩy tới đã tụ tập lại thành rác ở cạnh những cây cột của bến tàu bê tông và giữa con tàu nằm yên lâu dài một chỗ và các thanh ngang của bến tàu. Lúc thủy triều lên và thủy triều xuống lúc nào cũng kẹt lại ngay cả khi người ta thường dùng cây sào dài để dọn đi. Mớ lộn xộn đó thu hút tôm, và các con tôm thu hút những người cha gia đình trong số các cảnh sát. Họ tựa súng của họ vào một cây cột hay đặt khẩu súng ngắn kiểu cao bồi của họ xuống mặt đất và câu từ giờ này qua giờ khác, quên cả thế giới xung quanh.

Hai sĩ quan cảnh sát thay phiên nhau chỉ huy trạm gác này.Một người thì thấp bé và gầy gò, hôi hám và bất lịch sự, có lẽ cảm thấy không tự tin, gây khó khăn cho các nhân viên người Việt của chúng tôi và phản ứng một cách bướng bỉnh và khó gần khi người ta muốn điều gì ở ông. Người kia cao lớn hơn và mập mạp hơn, một người câu cá không biết mệt, lúc nào cũng có sẵn một nụ cười thân thiện và dễ gần khi người ta nói chuyện với ông. Nếu như ông ngồi ở cạnh cái bàn hình chữ nhật trong trạm gác thì ông không bỏ qua cơ hội, đứng dậy và cười tươi giơ tay chào khi bạn đi ngang qua. Lần cuối cùng này cũng vậy.

Giao thông tiếp tế trên bến Bạch Đằng vẫn chạy đi như thường lệ. Xe tải, xe Jeep, xe bồn trong cả hai hướng hầu như không để lại một khoảng trống nào. Bạn đi ngược đường Tự Do, con đường mà vào chiều tối bạn rất không muốn đi dọc theo nó, vì cứ năm thước một thì bất cứ khách bộ hành nào cũng bị thúc ép bởi những câu mời mọc như ‘wanna young girl’ hay ‘wanna change money’ hay chỉ với ‘scooter, mister’ từ những người lái Vespa và Lambretta làm tắc xi lậu.

Khách sạn Caravelle, ngôi nhà Quốc Hội và Nhà hát Thành phố trước đây, khách sạn Continental với hàng hiên đã trở nên nổi tiếng nhờ Graham Green ở lại phía sau trong giao thông giờ cao điểm. Giao thông từ cạnh ngôi nhà thờ đã trúng đạn pháo Việt Cộng đổ xuống đại lộ Thống Nhất rộng lớn, con đường đẹp.

Ở đường Pasteur, ô tô lại chen nhau. Ở phía kia, bên kia của đường Công Lý song song, ngôi dinh thự hùng vĩ màu vàng nhạt nằm ở phía sau hàng rào cao bằng sắt và công viên, ngôi dinh thự mà tướng Kỳ và những người đồng mưu đã ném bom Tổng thống Diệm. Lúc đó, Diệm đã thoát được qua một lối đi dưới mặt đất; sau này, Kỳ đã cho sửa chữa các hư hại do bom gây ra, để tự cầm quyền trong dinh của Diệm. Vào lúc bảy giờ rưỡi tối, một chiếc trực thăng đón ông từ mái của dinh thự, chiếc máy bay trực thăng duy nhất được phép đáp xuống trong khu vực của thành phố. Lính trong quân phục duyệt binh với nón bê rê xanh và khăn quàng cổ đỏ đứng nghiêm canh gác trước cổng.

Nếu bạn phải chờ ở đèn giao thông, mồ hôi sẽ chảy ròng ròng xuống thân thể bạn, và ở cạnh cơ quan hành chánh Mỹ, gần Viện Pasteur với người giám đốc cứ cười suốt của nó, hàng xe ở bên trái cũng lại kẹt như thường lệ, vì, như thường lệ, có ai đó muốn chỉnh chiếc ô tô của mình để lái qua cổng vào.

Ở cuối đường Pasteur, đoạn ngắn đầy ổ gà của đường Hiền Vương dẫn qua đường Công Lý, liên kết duy nhất và quá tải một cách tuyệt vọng giữa phi trường và trung tâm thành phố. Xe tải, xe buýt, xe Jeep, xe tư nhân, xe xích lô máy, xe gắn máy và xe đạp lộn xộn đan vào nhau trong cả hai hướng.

Phi trường được bao quanh bởi một vòng đai an ninh rộng, cổng vào được canh gác nghiêm ngặt. Người Việt chỉ được phép vào với thẻ đặc biệt hay với một vé máy bay; người da trắng thường được phép lái xe qua mà không bị chận lại, vì có ai đã từng nghe nói về một người Việt Cộng da trắng? Ở cạnh cổng chận thứ nhì cũng có cả quân cảnh Mỹ gác cùng với người Việt, nhưng tất cả những điều đó đã không ngăn chận được lần Việt Cộng đã cho nổ nhà ga hành khách của phi trường năm 1965.

Hiện giờ thì nó đã được xây dựng lại. Công việc làm thủ tục đăng ký bay nổi bật với sự thiếu thốn về tổ chức đặc trưng cho đất nước này; dòng người xếp hàng trước quầy đăng ký bay rất dài. Bên cạnh đó còn những hàng lính Mỹ dài hơn, những người kiên nhẫn chờ chuyến chở họ đến các Trung tâm R và R, có lẽ còn là chuyến bay trở về nhà nữa. Các cô gái trong chiếc áo dài màu xanh lá mạ, trang phục quốc gia đã trở thành đồng phục của Air Vietnam, che dấu sự bất lực và tính hay đùa nghịch đáng yêu của họ ở phía sau sự uy quyền không thân thiện. Hàng thứ nhì, làm thủ tục hộ chiếu, đang lộn xộn vì chỉ trạm kế tiếp, thủ tục ngoại tệ, là có người. Các nhân viên làm thủ tục hộ chiếu đã cùng nhau đi ăn trưa và người ta cũng không trông mong là họ sẽ nhanh chóng trở về. Không sao cả, vì Air Vietnam đã hoãn chuyến bay của họ, như lệ thường, ba giờ đồng hồ. Bạn mời những người đi cùng với bạn uống Coca-Cola với những đồng bạc cuối cùng, và các bạn bước trên cầu thang lên tầng một. Quạt máy tạo những làn sóng nhỏ trên những vũng nước ở trên bàn, ghế dính chặt, góc nhà được làm tròn bằng bụi bặm. Có những người phụ nữ già, có thẻ đặc biệt lủng lẳng ở trước ngực, dịch chuyển những cây chổi quét nhà khổng lồ, cũng như ở dưới nhà ga. Qua các tấm kính mờ đục, một phần đã vỡ, bạn nhìn xuống nơi đỗ đầy những chiếc máy bay đủ mọi kiểu. Hết chiếc máy bay vận tải này đến chiếc khác đáp và cất cánh ở các đường băng, hiếm có một chiếc máy bay dân sự, như mỗi ngày hai lần là một chiếc Boeing 707 của Pan American hay Air France.

Ở bên kia của nơi kiểm tra hộ chiếu và hải quan, bạn có cảm giác như là đã ở ngoài đất nước này rồi, đất nước mà bạn đã ở đó trong một khoảng thời gian ngắn của cuộc đời bạn. Sự dơ bẩn, sự cọ xát không thể nào tránh được với đám đông, thiếu thốn một tài năng tổ chức, bất lực trước lối làm việc và suy nghĩ có hệ thống của chúng ta – mà theo ý của chúng ta là chỉ chúng mới hứa hẹn mang lại thành công –, được bù trừ qua uy quyền lấn át và lối đối xử tự tin; người châu Á, và trong số họ nhất là người Việt Nam nhạy cảm, hết sức thông minh, với khả năng tiếp nhận những khác biệt tinh tế và sắc thái trí tuệ hết sức đặc biệt, chắc phải xem người da trắng – người Mỹ còn nhiều hơn người Âu – với tính thẳng thắn thô lỗ và cứng nhắc về trí tuệ của họ, với văn hóa đã bị làm cho thô kệch đi bởi nền văn minh và các ngôn ngữ không có âm điệu của họ, với kỹ thuật đơn giản hóa của họ và với sự tiêu phí vật chất thường hết sức khó hiểu cho tiện nghi cá nhân, như là những người quê mùa và thô lỗ, phi văn hóa. Và thỉnh thoảng họ còn ít cố gắng hơn cả người da trắng, để bắc cầu qua cái hố sâu đó ở giữa các dân tộc.

Cái nóng bức và ẩm thấp đè nặng lúc nào cũng có, tiếng ồn ào và những con chuột, côn trùng, gián, những bộ quần áo comlê nổi mốc ở trong tủ, những cơn tiêu chảy có chu kỳ, những viên cảnh sát thích ra oai đều là quá khứ. Tất cả những cái đó, những cái mà bạn phải khổ cực chịu đựng trong cuộc sống hàng ngày, mặc dù bạn đã cố gắng làm quen với tính nhẫn nại và tự chủ không thể nào tốt hơn được nữa của châu Á, dường như có ranh giới của chúng ở quầy hải quan của phi trường và đã ở lại với tiếng dập con dấu xuất cảnh. Trong vài giờ nữa, bạn sẽ đáp xuống ở Hongkong, Tokio, Sydney hay Paris trong thế giới của nền văn minh sạch sẽ, có quy củ, với những khách sạn tiện nghi, lướt đi trong taxi trên con đường nhựa phẳng phiu, ở giữa những con người không lo lắng, mặc đẹp. Bất thình lình bạn sẽ nhận ra, rằng bạn lại tự do và ngẩng đầu đi qua những con đường hẹp như thế nào, vì không còn mối nguy hiểm đó nữa, có cái gì đó nổ ở đâu đó.

Có những lần nào đó bạn đã ao ước nhìn theo những người ra đi và ước mong bạn là người đó. Bây giờ thì nỗi buồn của lần chia tay lớn hơn là niềm vui có nền văn minh. Mặc cho tất cả, bạn đã nhận đất nước tan nát này vào trong lòng của bạn và đã yêu nét đẹp của nó bên cạnh những diện tích cháy đen, những ngôi nhà bị bắn nát, những cái hố trên đường đi, những chướng ngại bằng bao cát và những hàng rào dây kẽm gai. Bạn đã yêu con người của dân tộc bị hành hạ này, những người nông dân bình thản và những người phu gân guốc, những người bán hàng nhiều mưu mẹo và những người đánh cá yêu tự do, những chàng trai trẻ tuổi yêu thơ ca và những cô gái trẻ đẹp với dáng yêu kiều không thể nào bắt chước được của họ, những người khốn cùng, những người bị thương và vô số trẻ mồ côi.

Bạn đã bỏ lại một phần của bạn. Partir, c’est mourir un peu [Ra đi là chết ở trong lòng một chút], những người bạn Pháp nói với tôi lúc từ giã, sau khi bạn hẹn gặp họ ở châu Âu trong kỳ nghỉ phép kế tiếp, và thật ra thì cho tới lúc ra đi chẳng còn điều gì nữa ngoài việc buồn bã nhớ lại.

Những người bạn Việt ở lại với một câu nói mơ hồ ‘một ngày nào đó ở đâu đó’, vì họ ở nhà trong chiến tranh. Chính bạn có chiếc chìa khóa cho cánh cửa đi vào hòa bình, cái hộ chiếu của một đất nước có hòa bình. Tiếng nói khàn khàn từ loa gọi chuyến bay, chỉ hiểu được ‘Hongkong’. Bạn đi cái đoạn ngắn đó trên nhựa đường đã mềm ra đến máy bay. Bạn rời đất Việt Nam trên cái cầu thang bằng kim loại.

Vì bạn là bác sĩ, bạn đã hổ thẹn một chút vì đã rời Việt Nam, nơi con người đang cần mỗi một bác sĩ đến như vậy./.

Giáo sư Tiến sĩ Y khoa Heimfried–Christoph Nonnemann

Phan Ba dịch

Đọc những bài trước ở trang Chúng Tôi Không Hỏi Họ Từ Đâu Đến

Sách đã được phát hành trên Amazon: http://www.amazon.com/dp/B00EPBTGZA

Advertisements

3 thoughts on “Một phần đã ở lại

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s