Thánh Victor Hugo ở Tây Ninh (phần 1)

Ở phía Tây của vùng bờ biển hẹp, trong miền Nam gần cho tới Sài Gòn, nổi lên dãy núi có độ cao trung bình, vùng rừng rậm. Rừng rậm phủ lên gần một nửa Đông Dương. Cao nguyên Việt Nam còn tương đối ít được khai phá. Người thổ dân của đất nước này đã lui về đó, người ta cho là thế. Họ khác biệt rõ rệt với người Việt. Có lẽ có nguồn gốc từ Malaysia, họ vạm vỡ hơn người Việt mảnh khảnh, có mắt to hơn và chân ngắn hơn. Hơn hai chục bộ lạc, một phần nói các thứ tiếng hoàn toàn khác nhau, được người Pháp gọi tổng quát là ‘Montagnard’. Giống như người du mục, họ dời làng của họ đi nơi khác khi không còn thu hoạch gì được trên mảnh đất mà họ trồng lúa ở đó, và khai phá một cánh rừng mới. Là người sống trên núi và trong rừng rậm, họ là những người thợ săn rất tài tình. Người ta xếp họ vào các dân tộc nguyên thủy, vì họ không biết dự trữ cho tương lai và hoàn toàn không biết đến bất cứ một hình thức kế hoạch nào cả. Họ thật sự rất ngây thơ. Cuộc chiến đã giới hạn rất nhiều sự tự do đi lại của họ, cho tới mức thỉnh thoảng họ không thể thu hoạch được lúa là lương thực rất cần thiết cho họ. Trong nhiều làng, thiếu thốn rất lớn. Vì thế mà người Mỹ và một vài quốc gia khác tặng gạo cho họ. Trung thành với quan niệm sống của mình, họ tính toán có thể sống được bao lâu với số gạo được tặng cho đó, và đầu tiên là chẳng làm gì cả trong thời gian đó. Một người quen nói rằng có lẽ một hay hai trăm năm nữa, người Montagnard sẽ thuật lại huyền thoại rằng trước đây rất lâu bất chợt có gạo từ trên trời rơi xuống, và không một ai còn phải đi làm việc nữa. Nhưng rồi người dân không bày tỏ cho đủ lòng cảm ơn các thần thánh, và như là hình phạt, bây giờ thì họ lại phải cực nhọc trồng lúa.

Chợ Kontum 1969 - Mặt trước đường Trần Hưng Đạo
Chợ Kontum 1969 – Mặt trước đường Trần Hưng Đạo

Nhà của họ là nhà sàn với một gian rộng duy nhất, có một phần xây để ngỏ ở phía trước và một mái nhà thấp bằng rơm, được sắp xếp thành những ngôi làng thưa thớt. Khi đến thăm họ, người ta bước lên nhà trên một thân cây được khắc thành một cái thang, ngồi trên một cái ghế đẩu nhỏ bằng gỗ và chiêm ngưỡng sáu hay bảy cái vò rượu làm từ gạo, đứng thàng hàng ở cạnh bức tường ở phía sau của gian phòng. Chẳng bao lâu sau đó, người ta phải dùng thử rượu từ mỗi một vò đó theo thứ tự.

Chỗ đi vệ sinh là khu vực xung quanh nhà. Dưới mỗi một ngôi nhà, giữa bốn cái cột nhà sàn, có một hay hai thân cây được nạo rỗng, quan tài.

Trung tâm của mỗi một làng là một ngôi nhà làng lớn. Đàn ông tụ tập lại ở đây, nếu như phải bàn thảo về những câu hỏi của làng. Ngoài ra nó còn là nơi ngủ của các thiếu niên, những người không còn được phép sống trong nhà của cha mẹ và chị em nữa, sau khi đã cai sữa mẹ. Người Pháp gọi ngôi nhà làng cao hơn những ngôi nhà khác này là “la Maison de Joie’, ngôi nhà của niềm vui, hẳn là vì cho rằng những thiếu niên đó không phải lúc nào cũng qua đêm một mình ở đây.

Cuộc sống cơ cực trên núi, nhiễm trùng và thiếu ăn đã giữ cho con số người Montagnard không đổi, mặc dù các gia đình có rất nhiều con. Họ chôn cất người chết của họ ở nghĩa trang mà mồ mả của họ cũng được xây trên cột giống như nhà của họ. Cây đòn dông của những ngôi nhà mộ này được khắc trang trí. Ở một ngôi mộ gần Kontum tôi phát hiện ra một cái đầu được khắc mà hình dáng của nó rõ ràng là giống của de Gaulles.

Họ rất rụt rè, ít nhất là khi họ tỉnh táo, nhưng họ rất thường không như thế. Mỗi một dịp – tang lễ, sinh đẻ hay bất cứ một sự kiện nào đó – đều là cớ để họ tổ chức lễ lạc. Người khách của nhà phải dùng thử rượu từ mỗi một vò rượu đó, và chỉ sau một lúc thì họ đã say rượu, trở nên thân mật, vui vẻ và hạnh phúc. Cả làng ca hát, nhảy múa và uống rượu. Và bất thình lình, khi họ uống đủ nhiều, những người đàn ông bắt đầu nói trôi chảy tiếng Pháp với người lạ, tuy là với văn phạm hết sức đơn giản nhưng với một vốn từ tạm đủ. Người Pháp đã đánh giá cao họ như là những người đồng minh và chiến binh. Trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, nhiều bộ lạc đã là những người đồng minh đáng tin cậy và rất hữu dụng để chống lại Việt Minh. Như bức tượng de Gaulles cho thấy và khả năng nói tiếng Pháp của những người đàn ông để cho phỏng đoán, về phần mình, người Montagnard vẫn còn cảm thấy họ gắn kết chặt chẽ với người Pháp cho tới ngày hôm nay.

Mặc dù họ đã tạo thành một đạo quân chiến binh nhỏ từ nhiều bộ lạc, thỉnh thoảng lại đổi bên, nhưng thường tự hoạt động độc lập, và lần trở về với nền Cộng hòa vào cuối năm 1966 được Tướng Kỳ chào mừng với nhiều sự khoa trương, họ hầu như không đóng một vai trò nào về mặt chính trị ở Việt Nam cả. Người Việt coi thường người dân miền núi, đối với họ giống như những kẻ mọi rợ vô văn hóa. Nhưng những người sống trên miền đồi núi lại hãnh diện vì sự tự do của họ. Người Montagnard phục vụ trong quân đội tạo thành các đơn vị riêng của họ. Người Việt, nếu như họ có thể tránh được, không tiếp nhận người của các bộ lạc miền núi vào trong các bệnh viện tỉnh của họ, và người Montagnard nếu có thể thì cũng không đi vào bệnh viện Việt. Vì thế mà ở Kontum, tỉnh lỵ ở rìa bắc của Tây Nguyên, đã thành hình một bệnh viện của những người truyền đạo Công giáo. Bệnh viện này được một nữ bác sĩ người Mỹ lãnh đạo, người nổi danh như một huyền thoại vì tài giỏi và tận tụy hy sinh. Các khoa có bệnh nhân chủ yếu là người  Montagnard. Bà hầu như không có tiền để sử dụng và rất hạnh phúc khi nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào, ví dụ như hai nữ y tá Đan Mạch trẻ tuổi, những người làm việc với bà mà không cần trả lương. Và có rất nhiều khó khăn: ở Sài Gòn, các trụ sở Mỹ khước từ không cung cấp cho bà thuốc kháng sinh, vì bệnh viện của bà nằm trong vùng Việt Cộng và thuốc kháng sinh có thể dễ dàng bị Việt Cộng chiếm đoạt.

Bệnh viện Minh Quý Kontum 1967 - Photo by Will Miller
Bệnh viện Minh Quý Kontum 1967 – Photo by Will Miller

Cũng có một nhóm nhỏ của Hồng Thập Tự Thụy Sĩ làm việc ở Kontum. Hai bác sĩ, hai trợ lý y khoa–kỹ thuật và hai nữ y tá chăm sóc cho khu phẫu thuật của bệnh viện tỉnh mà trong đó cũng có bảy bác sĩ quân y Việt Nam làm việc. Bên cạnh đó, họ cũng thiết lập một trạm điều trị không nằm lại với một vài giường bệnh ở ngoại ô phía Bắc của thị trấn, cạnh con đường đến nhiều ngôi làng của người Montagnard mà trong đó họ chỉ điều trị cho người Montagnard thôi. Các bệnh nhân, thường được mang đến trong tình trạng bệnh thật nặng nhưng lại biến mất ngay lập tức không một lời cảm ơn khi họ vừa khá hơn và có thể đi lại được, nhận thức ăn từ bếp của bệnh viện, cái ở đây chỉ là một nơi nấu nướng có mái che. Nơi nấu nướng này được một người Montagnard trông nom, người vẫn còn sống trong quá khứ quân đội Pháp của mình cũng như nhiều người anh em của ông: khi nhìn thấy sắp có khách đến thăm ‘bếp’, ông đứng nghiêm, giậm hai gót chân trần lại với nhau, kéo thẳng chiếc áo khoác quân đội Pháp cũ của ông lại, cái mà ông mặc phủ lên trên cái khố được thắt quanh hông theo kiểu người Montagnard, và chào đúng quy định, với bàn tay duỗi thẳng cạnh một chiếc mũ của quân đội Mỹ. Mắt của ông lóng lánh rượu.

Nếu như đi thăm một trong những ngôi làng tiếp theo đó về phía Bắc, những ngôi làng mà người Thụy Sĩ thường xuyên đến để khám bệnh, thì người ta có thể ngồi ở trên hàng hiên của một trong những ngôi nhà sàn đó và quan sát phụ nữ làng đội củi hay nước trên đầu đi ngang qua, chỉ mặc một tấm vải tự dệt lấy được quấn lại quanh hông và chân như một chiếc váy. Qua khu rừng rậm ướt nước mưa là vùng đất có con ‘Đường mòn Hồ Chí Minh’ đi từ Lào sang Việt Nam. Con đường tiếp tế này của Việt Cộng và của các trung đoàn Bắc Việt không phải là một ‘đường mòn’ nhất định, mà là một vùng rừng rậm rộng hàng kilômét luôn có những con đường mòn mới được tạo thành ở trong đó và – tương ứng với cách tiến hành chiến tranh một cách đặc biệt của những người du kích quân – được ngụy trang hết sức khéo léo.

Có thể đến Kontum, ngoài đi máy bay, từ Pleiku trên một con đường còn giữ được tương đối tốt. Con đường này được các đoàn xe tải của Mỹ sử dụng và được thường xuyên dọn mìn. Thế nhưng ngay cả trên con đường đã được dọn mìn này cũng có một mục sư với năm trẻ em trong chiếc xe jeep của ông chạy phải mìn. Bay đến Kontum thì tốt hơn, ngay cả khi bay trong những chiếc máy bay vận tải hoàn toàn không tiện nghi chút nào.

Do tôi đã thuật lại những trải nghiệm đi săn ở rừng châu Phi trong lúc đang ăn uống vui vẻ nên những người chủ nhà Thụy Sĩ của tôi đã tổ chức một chuyến đi săn vịt trong cái được gọi là vùng của Việt Cộng. Họ buồn cười vì sự ngạc nhiên của tôi. Quả thật là người ta đã có ấn tượng, rằng vào trưa ngày thứ bảy, các trại lính Kontum đều được đóng cửa và chiến tranh được nghỉ phép cho tới ngày thứ hai. Trong lúc đi săn, tôi chỉ thỉnh thoảng mới có cảm giác bất an, vì có người dùng súng các bin để bắn gà rừng ở gần đó và đạn lạc suýt nữa thì đã sượt qua tôi.

Đó là một ‘vùng đất lịch sử’, nơi chúng tôi đi săn vịt ở gần Kontum. Cách đó không xa về phía Nam, quân đội Pháp đã thất bại thảm hại trong nhiều trận đánh của họ. Thời đó, Trung đoàn 803 của Việt Minh hoạt động trong vùng này: bây giờ nó cũng đã hoạt động trở lại, lần này thì như là một đơn vị chính quy Bắc Việt. Các cựu chiến binh biết rất rõ địa hình vùng này và ép đối thủ ngày nay của họ vào trong cùng một chiến thuật như đã làm với người Pháp. Nhưng người Mỹ ngày nay, theo như Bernard Fall tường thuật, vẫn phạm phải cùng những sai lầm như người Pháp trước đây mười hai năm.

(Còn tiếp)

Đọc những bài trước ở trang Chúng Tôi Không Hỏi Họ Từ Đâu Đến

Sách đã được phát hành trên Amazon: http://www.amazon.com/dp/B00EPBTGZA

Advertisements

3 thoughts on “Thánh Victor Hugo ở Tây Ninh (phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s