Đất nước này cần hệ thống nào? (phần 1)

Kang_Yu-Wei
Khang Hữu Vi

Không một câu hỏi nào khác làm cho giới trí thức Trung Quốc xao động nhiều hơn là câu hỏi này. Các cuộc tranh cãi về điều này được tiến hành không phải chỉ mới đây. Chúng đã bắt đầu trước đây nhiều thập niên, chính xác hơn là còn trước đây cả thế kỷ rồi. Cho đến ngày hôm nay, người ta không tìm được câu trả lời. Các tranh luận về câu hỏi này đã để cho những lời kêu gọi lật đổ và cải cách, từ bỏ và tiếp tục, quay trở lại và hiện đại hóa vang to lên. Làm sao có thể cai trị một đất nước to lớn như thế để cho tất cả mọi người đều hài lòng? Dẫu sao đi nữa thì không thể với chế độ hoàng đế chuyên quyền ngày trước và với tư tưởng cai trị của Khổng Tử, cái đã không thể dẫn dắt vương quốc cũ đi vào thời Hiện đại được. Khi các thế lực Phương Tây bước vào vùng đất dọc theo bờ biển của Trung Quốc, điều đó đã làm bộc lộ sự lạc hậu và tính yếu ớt của đất nước này và gióng lên hồi chuông bắt đầu cho một thời kỳ biến động về chính trị và tư tưởng. Vì với những con người xa lạ đó và với tri thức về kỹ thuật mới và khoa học hiện đại, các tư tưởng mới và các ý tưởng của Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Marx và dân chủ cũng nhập vào trong nước. Các học thuyết mới được hào hứng tiếp nhận, bởi vì phải giải phóng Trung Quốc ra khỏi những xiềng xích của sự lạc hậu và Chủ nghĩa Truyền thống, và làm cho nó mạnh hơn, để nó có thể chống cự lại được với những thèm muốn của các thế lực ngoại quốc.

Những nhà cải cách và những nhà cách mạng

Đầu tiên là phải kể đến Khang Hữu Vi (1858 – 1927), một trong những nhà cải cách nổi tiếng nhất của thế kỷ 19 đang chấm dứt và của thế kỷ 20 đang bắt đầu. Được đào tạo trở thành một học giả Khổng Tử cổ điển, ông đã học hỏi Phương Tây và kiến thức của Phương Tây qua sách vở. Ở Hongkong thuộc địa Anh và trong những vùng đất nhượng lại cho người nước ngoài ở Thượng Hải, ông làm quen với các biện pháp cầm quyền và với cách sống của Phương Tây. Ông là người đầu tiên công khai kêu gọi từ bỏ tục lệ bó chân tàn nhẫn. Tác phẩm của cả đời ông là Đại Đồng Thư, được ông hoàn thành năm 1902 sau gần hai mươi năm làm việc. Trong đó, ông phác thảo một thế giới không tưởng, không có nhà nước quốc gia, biên giới và giai cấp, và nam nữ cũng như tất cả các chủng tộc đều bình đẳng. Với những ý tưởng như quốc hội thế giới, ông đã đi trước thời của mình cho tới mức ông chỉ dám công bố một phần ba quyển sách vào năm 1913. Mãi đến năm 1935, toàn bộ tác phẩm mới được xuất bản.

Nhờ đỗ đạt trong hệ thống thi cử quốc gia mà Khang đã có đủ điều kiện để có thể nhận được những chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước. Ông là một người trung thành với chế độ quân chủ. Cả đời mình, ông đã khước từ cách mạng và không chịu hủy bỏ chế độ hoàng đế. Tuy vậy, ông đã nghĩ đến một chế độ quân chủ lập hiến. Với các ý tưởng cải tổ của mình, ông đã có ảnh hưởng sâu đậm đến giới trí thức trẻ, giới cảm nhận sự thua kém của Trung Quốc trước các thế lực xâm lăng nước ngoài như là một nỗi nhục quốc gia. Hội “Học để tự cường” do ông thành lập được cho là đã có một lực thúc đẩy quyết định cho các cuộc cách mạng 1911 và 1949.

Năm 1898, ông đã thuyết phục thành công hoàng đế trẻ tuổi và cởi mở Quang Tự tin theo các ý tưởng cải cách của mình, người sau đó theo lời khuyên của Khang đã ban hành nhiều biện pháp tái cấu trúc bộ máy quốc gia và hành chính. Nhưng chỉ sau một trăm ngày, các thế lực bảo thủ ở triều đình mà đứng đầu là Từ Hy, người vợ góa của hoàng đế trước đó, đã chấm dứt các cải cách. Bà nhìn chúng như một mối đe dọa cho quyền lực tuyệt đối của mình. Với một cuộc đảo chính, bà tước quyền lực của người hoàng đế trẻ tuổi và quản thúc ông tại gia cho tới cuối đời. Qua đó, họ đã đánh mất cơ hội cuối cùng để chống cự lại với sự suy tàn đang đe dọa triều nhà Thanh. Sáu nhà cải cách đứng đầu bị xử tử. Khang Hữu Vi trốn thoát ra nước ngoài trong đường tơ kẻ tóc. Chỉ sau khi triều đình bị lật đổ, ông mới trở về lại Trung Quốc.

Thuộc trong số những người theo Khang Hữu Vi là học trò Lương Khải Siêu của ông, người sau khi học xong theo lối cổ điển cũng quay sang với các tư tưởng Phương Tây và giúp đỡ người thầy của mình trong các cố gắng cải cách của ông. Cả hai cái tên đó, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, cho tới ngày nay vẫn còn đại diện cho cuộc Cải cách Trăm ngày [Bách Nhật Duy Tân] tuy thất bại nhưng mang tầm quan trọng đó. Ngoài ra, Lương Khải Siêu được xem là nhà tiên phong của báo chí Trung Quốc. Ông nhận ra được quyền lực và khả năng của các cơ quan báo chí mà người ta có thể phổ biến các ý tưởng chính trị với chúng.

Tôn Dật Tiên

Khác với các nhà cải cách trung quân Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (1866 – 1925) đấu tranh để lật đổ triều đình và cho một hình thức nhà nước cộng hòa. Ngay từ thời trẻ, ông đã tiếp xúc với tư tưởng Phương Tây qua thời gian học tập ba năm tại Hawaii, sau đó ông đã học Tây Y ở Hongkong. Bị thu hút bởi những ý tưởng tiến bộ mới, ông cống hiến toàn bộ cuộc đời và hoạt động của mình cho cuộc cải mới Trung Quốc. “Thuyết Tam Dân” xuất phát từ ông, các thuyết về dân tộc chủ nghĩa, dân quyền chủ nghĩa và dân sinh chủ nghĩa. Thuyết Dân tộc có ý định lật đổ những người cai trị xa lạ từ Mãn Châu mà tổ tiên của họ đã xâm chiếm Trung Quốc năm 1644. Nó cũng đấu tranh cho sự thống nhất của Trung Quốc và tái lập hoàn toàn quyền tự chủ quốc gia trước các thế lực ngoại quốc. Thuyết Dân sinh yêu cầu xóa bỏ bất bình đẳng xã hội và chia ruộng đất đồng đều. Thuyết Dân quyền bao hàm việc từng bước tiến hành một hệ thống dân chủ. Thế nhưng để chống lại sự đe dọa của nước ngoài, lúc ban đầu Tôn đã hướng tới một nhà nước quốc gia mạnh, cái cần phải được dẫn dắt bởi một nhóm người có khả năng.

Là lãnh tụ của phong trào cách mạng, Tôn Dật Tiên bị chính phủ hoàng đế truy nã, vì vậy mà phần nhiều là ông ở nước ngoài, thường ở Nhật, nước thời đó là một nơi trú ẩn cho các nhà đối lập người Trung Quốc. Tháng 10 năm 1911, ở Vũ Xương xảy ra một cuộc khởi nghĩa, cái nhanh chóng nhận được sự ủng hộ trong khắp nước và qua đó không những đã gióng lên hồi chuông chấm dứt triều nhà Thanh mà cả chế độ hoàng đế mang nặng ảnh hưởng Khổng Tử kéo dài hơn hai nghìn năm nữa. Điều dễ hiểu là những người nổi dậy đã chọn Tôn Dật Tiên được kính trọng ở trong và ngoài nước làm tổng thống đầu tiên của chính phủ lâm thời. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1912, Tôn tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa ở Nam Kinh. Chỉ một tháng sau đó, ông đã từ bỏ chức vụ, giao về cho người lãnh tụ quân đội nhiều quyền lực Viên Thế Khải, trong hy vọng rằng người này với quân đội được trang bị hiện đại của mình có thể bảo vệ nước cộng hòa trẻ tuổi trước các lực lượng của hoàng đế và các thế lực quân sự cạnh tranh. Một sai lầm, vì sau đó Viên quyết định thành lập một triều đại riêng, và lên ngôi hoàng đế với sự giúp đỡ của Nhật. Kế hoạch thất bại năm 1915 trước khi ông lên ngôi vì sự phản đối ở trong và ngoài nước. Ông chết một năm sau đó.

Năm 1912, Quốc Dân Đảng được thành lập. Tôn Dật Tiên đảm nhận chức chủ tịch và đưa phương án của thuyết Tam Dân Chủ nghĩa do ông phác thảo ra làm nền tảng cho chương trình của đảng này.

Tôn Dật Tiên qua đời năm 1925. Dưới thời những người kế nghiệp ông, phương án của thuyết Tam Dân Chủ nghĩa không được thực hiện.

Mặc dù thất bại, cho tới ngày nay Tôn Dật Tiên vẫn còn được người Trung Quốc xem như là người cha của một Trung Quốc Cộng hòa.

Cùng với sự chấm dứt cai trị của hoàng đế, những năm tháng của một đạo quân tiên phong trẻ tuổi cũng bắt đầu, những người mà với các ý tưởng của họ đã đóng góp vào cho một sự khởi dậy về tinh thần và cho một cuộc cách mạng văn hóa. Đại học Bắc Kinh trong những năm 1916 đến 1926 đã trở thành trung tâm cho các hoạt động của họ.

Thái Nguyên Bồi đã học đại học về lịch sử nghệ thuật, triết học và tâm lý học ở Berlin và Leipzig. Sau khi nước Cộng hòa thành lập năm 1912, Tôn Dật Tiên đã mời ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Thái nghe theo lời kêu gọi, nhưng quay trở lại Đức ngay lập tức sau khi Tôn thất bại. Mãi đến những năm sau này ông mới có thể toàn tâm lo xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đại mà cho đến ngày nay ông vẫn còn được xem như là người đã sáng lập ra nó. Hệ thống do ông tạo ra từ bỏ các truyền thống Khổng Tử cổ điển và có hướng đến các gương mẫu Phương tây với trường tiểu học, trung học và đại học của nó.

Trong thời gian là hiệu trưởng của trường Đại học Bắc Kinh, Thái đã nhận những người trí thức tự do trẻ tuổi làm giáo sư và giảng viên, những người mà tất cả họ cũng như ông đã được đào tạo theo lối cổ điển và sau đó, trong lúc học đại học ở Mỹ, Âu hay Nhật đã tiếp xúc với những ý tưởng mới. Trong số họ là Trần Độc Tú, người đã học đại học ở Nhật và Pháp. Sau khi trở về, ông thành lập tờ báo Thanh Niên Mới để tuyên truyền những ý tưởng mới của Phương Tây và kêu gọi giới trẻ Trung Quốc chống lại trật tự xã hội cũ. Ông lên án Đạo Khổng như là nguyên nhân cho sự lạc hậu và đàn áp, và ủng hộ dân chủ và khoa học hiện đại. Các tin tức về thành công của Cách mạng Tháng Mười ở Nga, nước cũng lạc hậu tương tự như Trung Quốc, khiến ông quan tâm tới Chủ nghĩa Marx. Cũng mang ấn tượng về những gì đang xảy ra ở Nga là đồng nghiệp của ông, Lý Đại Chiêu, người đã tiếp xúc với tư tưởng Marx ngay từ lúc còn học ở Nhật. Lý thuộc trong số những người mở đường cho Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc. Lúc đầu, ông làm việc trong một thư viện rồi sau đó là giáo sư của Đại học Bắc Kinh. Trong số những người giúp việc trong thư viện của ông có một người con trai nông dân trẻ tuổi từ tỉnh Hồ Nam: Mao Trạch Đông.

Hồ Thích đi theo một con đường khác, người đã học về triết học ở Hoa Kỳ. Với lời kêu gọi “Hãy dẹp bỏ cái cửa hàng Khổng Tử!”, ông cũng chống lại những giá trị của đạo Khổng và ủng hộ một định hướng đến gương mẫu Phương Tây. Nhưng khác với Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu, ông khước từ một cực đoan chính trị. Không phải cách mạng, mà là tiến hóa mới là con đường cách tân Trung Quốc, cùng với sự dẫn nhập khoa học và kỹ thuật hiện đại và xây dựng một hệ thống chính phủ dân chủ, cái vì sự rộng lớn vượt bực của Trung Quốc mà cần nên theo nguyên tắc liên bang. Với lời yêu cầu của mình, không dùng chữ viết cổ điển trong văn học, tức là ngôn ngữ của các học giả, mà nên dùng ngôn ngữ bình dân dễ hiểu hơn, ông ấy đã tạo một động lực quyết định để cải mới văn học. Hồ Thích là một trong những người đầu tiên yêu cầu bảo vệ quyền con người, cái ông nhìn thấy bị đe dọa sau khi Quốc Dân Đảng lập chính phủ năm 1928 và quay trở lại một chính quyền tập trung.

Một trí thức cách mạng khác ở Đại học Bắc Kinh là Lỗ Tấn (1881 – 1936), người ngày nay được xem như một trong các nhà văn quan trọng nhất của Trung Quốc hiện đại. Khi còn là sinh viên y khoa ở Nhật, ông đã nhận ra rằng chỉ có thể cứu chữa cho đồng bào của mình khi hướng dẫn họ tới một lối suy nghĩ khác nhờ vào những từ ngữ được in ra. Vì vậy mà ông ấy là một trong các nhà văn đầu tiên đã viết các tác phẩm của mình trong ngôn ngữ bình dân hiện đại. Trong đó, ông lên án hết sức rõ ràng những tình trạng tồi tệ trong xã hội. Do không cảm thấy thuộc vào đảng nào nên ông không khoan dung cho cả những người bảo thủ lẫn những người tiến bộ trong phê bình của ông. Ai ai cũng sợ cái lưỡi nhọn của ông. Ông buộc tội những người theo đạo Khổng rằng họ đã vi phạm chính những giá trị cao cả của họ, và buộc những người dân chủ là đạo đức giả. Ông có ảnh hưởng mạnh đến giới trí thức trẻ. Cho tới ngày nay, các truyện kể của ông hầu như không mất đi tính thời sự.

Sau này, Mao Trạch Đông nói về những người thời đó tụ tập quanh hiệu trưởng đại học Thái Nguyên Bồi, rằng họ hầu như không để ý đến ông, người phụ việc trong thư viện. Làm sao mà họ có thể đoán được rằng người con trai nông dân trẻ tuổi từ Hồ Nam rồi sẽ có lần đặt dấu ấn mang tính quyết định lên sự việc cải mới Trung Quốc?

Yu-Chien Kuan (Quan Ngu Khiêm)

Phan Ba dịch

Đọc những bài trước ở trang Thùng thuốc súng Trung Quốc

Advertisements

6 thoughts on “Đất nước này cần hệ thống nào? (phần 1)

  1. […] Đất nước này cần hệ thống nào? (phần 1) Yu-Chien Kuan (Quan Ngu Khiêm)   Phan Ba dịch Tháng Bảy 21, 2013 Comments: 3 https://phanba.wordpress.com/2013/07/21/dat-nuoc-nay-can-he-thong-nao-phan-1/   Không một câu hỏi nào khác làm cho giới trí thức Trung Quốc xao động nhiều hơn là câu hỏi này. Các cuộc tranh cãi về điều này được tiến hành không phải chỉ mới đây. Chúng đã bắt đầu trước đây nhiều thập niên, chính xác hơn là còn trước đây cả thế kỷ rồi. Cho đến ngày hôm nay, ngưởi ta không tìm được câu trả lời. Các tranh luận về câu hỏi này đã để cho những lời kêu gọi lật đổ và cải cách, từ bỏ và tiếp tục, quay trở lại và hiện đại hóa vang to lên. Làm sao có thể cai trị một đất nước to lớn như thế để cho tất cả mọi người đều hài lòng? Dẫu sao đi nữa thì không thể với chế độ hoàng đế chuyên quyền ngày trước và với tư tưởng cai trị của Khổng Tử, cái đã không thể dẫn dắt vương quốc cũ đi vào thời Hiện đại được. Khi các thế lực Phương Tây bước vào vùng đất dọc theo bờ biển của Trung Quốc, điều đó đã làm bộc lộ sự lạc hậu và tính yếu ớt của đất nước này và gióng lên hồi chuông bắt đầu cho một thời kỳ biến động về chính trị và tư tưởng. Vì với những con người xa lạ đó và với tri thức về kỹ thuật mới và khoa học hiện đại, các tư tưởng mới và các ý tưởng của Chủ nghĩa Tự do, Chủ nghĩa Marx và dân chủ cũng nhập vào trong nước. Các học thuyết mới được hào hứng tiếp nhận, bởi vì phải giải phóng Trung Quốc ra khỏi những xiềng xích của sự lạc hậu và Chủ nghĩa Truyền thống, và làm cho nó mạnh hơn, để nó có thể chống cự lại được với những thèm muốn của các thế lực ngoại quốc.   Những nhà cải cách và những nhà cách mạng   Đầu tiên là phải kể đến Khang Hữu Vi (1858 – 1927), một trong những nhà cải cách nổi tiếng nhất của thế kỷ 19 đang chấm dứt và của thế kỷ 20 đang bắt đầu. Được đào tạo trở thành một học giả Khổng Tử cổ điển, ông đã học hỏi Phương Tây và kiến thức của Phương Tây qua sách vở. Ở Hongkong thuộc địa Anh và trong những vùng đất nhượng lại cho người nước ngoài ở Thượng Hải, ông làm quen với các biện pháp cầm quyền và với cách sống của Phương Tây. Ông là người đầu tiên công khai kêu gọi từ bỏ tục lệ bó chân tàn nhẫn. Tác phẩm của cả đời ông là Đại Đồng Thư, được ông hoàn thành năm 1902 sau gần hai mươi năm làm việc. Trong đó, ông phác thảo một thế giới không tưởng, không có nhà nước quốc gia, biên giới và giai cấp, và nam nữ cũng như tất cả các chủng tộc đều bình đẳng. Với những ý tưởng như quốc hội thế giới, ông đã đi trước thời của mình cho tới mức ông chỉ dám công bố một phần ba quyển sách vào năm 1913. Mãi đến năm 1935, toàn bộ tác phẩm mới được xuất bản. Nhờ đỗ đạt trong hệ thống thi cử quốc gia mà Khang đã có đủ điều kiện để có thể nhận được những chức vụ cao nhất trong bộ máy nhà nước. Ông là một người trung thành với chế độ quân chủ. Cả đời mình, ông đã khước từ cách mạng và không chịu hủy bỏ chế độ hoàng đế. Tuy vậy, ông đã nghĩ đến một chế độ quân chủ lập hiến. Với các ý tưởng cải tổ của mình, ông đã có ảnh hưởng sâu đậm đến giới trí thức trẻ, giới cảm nhận sự thua kém của Trung Quốc trước các thế lực xâm lăng nước ngoài như là một nỗi nhục quốc gia. Hội “Học để tự cường” do ông thành lập được cho là đã có một lực thúc đẩy quyết định cho các cuộc cách mạng 1911 và 1949.   Năm 1898, ông đã thuyết phục thành công hoàng đế trẻ tuổi và cởi mở Quang Tự tin theo các ý tưởng cải cách của mình, người sau đó theo lời khuyên của Khang đã ban hành nhiều biện pháp tái cấu trúc bộ máy quốc gia và hành chính. Nhưng chỉ sau một trăm ngày, các thế lực bảo thủ ở triều đình mà đứng đầu là Từ Hy, người vợ góa của hoàng đế trước đó, đã chấm dứt các cải cách. Bà nhìn chúng như một mối đe dọa cho quyền lực tuyệt đối của mình. Với một cuộc đảo chính, bà tước quyền lực của người hoàng đế trẻ tuổi và quản thúc ông tại gia cho tới cuối đời. Qua đó, họ đã đánh mất cơ hội cuối cùng để chống cự lại với sự suy tàn đang đe dọa triều nhà Thanh. Sáu nhà cải cách đứng đầu bị xử tử. Khang Hữu Vi trốn thoát ra nước ngoài trong đường tơ kẻ tóc. Chỉ sau khi triều đình bị lật đổ, ông mới trở về lại Trung Quốc.   Thuộc trong số những người theo Khang Hữu Vi là học trò Lương Khải Siêu của ông, người sau khi học xong theo lối cổ điển cũng quay sang với các tư tưởng Phương Tây và giúp đỡ người thầy của mình trong các cố gắng cải cách của ông. Cả hai cái tên đó, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, cho tới ngày nay vẫn còn đại diện cho cuộc Cải cách Trăm ngày [Bách Nhật Duy Tân] tuy thất bại nhưng mang tầm quan trọng đó. Ngoài ra, Lương Khải Siêu được xem là nhà tiên phong của báo chí Trung Quốc. Ông nhận ra được quyền lực và khả năng của các cơ quan báo chí mà người ta có thể phổ biến các ý tưởng chính trị với chúng.   Khác với các nhà cải cách trung quân Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (1866 – 1925) đấu tranh để lật đổ triều đình và cho một hình thức nhà nước cộng hòa. Ngay từ thời trẻ, ông đã tiếp xúc với tư tưởng Phương Tây qua thời gian học tập ba năm tại Hawaii, sau đó ông đã học Tây Y ở Hongkong. Bị thu hút bởi những ý tưởng tiến bộ mới, ông cống hiến toàn bộ cuộc đời và hoạt động của mình cho cuộc cải mới Trung Quốc. “Thuyết Tam Dân” xuất phát từ ông, các thuyết về dân tộc chủ nghĩa, dân quyền chủ nghĩa và dân sinh chủ nghĩa. Thuyết Dân tộc có ý định lật đổ những người cai trị xa lạ từ Mãn Châu mà tổ tiên của họ đã xâm chiếm Trung Quốc năm 1644. Nó cũng đấu tranh cho sự thống nhất của Trung Quốc và tái lập hoàn toàn quyền tự chủ quốc gia trước các thế lực ngoại quốc. Thuyết Dân sinh yêu cầu xóa bỏ bất bình đẳng xã hội và chia ruộng đất đồng đều. Thuyết Dân quyền bao hàm việc từng bước tiến hành một hệ thống dân chủ. Thế nhưng để chống lại sự đe dọa của nước ngoài, lúc ban đầu Tôn đã hướng tới một nhà nước quốc gia mạnh, cái cần phải được dẫn dắt bởi một nhóm người có khả năng.   Là lãnh tụ của phong trào cách mạng, Tôn Dật Tiên bị chính phủ hoàng đế truy nã, vì vậy mà phần nhiều là ông ở nước ngoài, thường ở Nhật, nước thời đó là một nơi trú ẩn cho các nhà đối lập người Trung Quốc. Tháng 10 năm 1911, ở Vũ Xương xảy ra một cuộc khởi nghĩa, cái nhanh chóng nhận được sự ủng hộ trong khắp nước và qua đó không những đã gióng lên hồi chuông chấm dứt triều nhà Thanh mà cả chế độ hoàng đế mang nặng ảnh hưởng Khổng Tử kéo dài hơn hai nghìn năm nữa. Điều dễ hiểu là những người nổi dậy đã chọn Tôn Dật Tiên được kính trọng ở trong và ngoài nước làm tổng thống đầu tiên của chính phủ lâm thời. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1912, Tôn tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Trung Hoa ở Nam Kinh. Chỉ một tháng sau đó, ông đã từ bỏ chức vụ, giao về cho người lãnh tụ quân đội nhiều quyền lực Viên Thế Khải, trong hy vọng rằng người này với quân đội được trang bị hiện đại của mình có thể bảo vệ nước cộng hòa trẻ tuổi trước các lực lượng của hoàng đế và các thế lực quân sự cạnh tranh. Một sai lầm, vì sau đó Viên quyết định thành lập một triều đại riêng, và lên ngôi hoàng đế với sự giúp đỡ của Nhật. Kế hoạch thất bại năm 1915 trước khi ông lên ngôi vì sự phản đối ở trong và ngoài nước. Ông chết một năm sau đó.   Năm 1912, Quốc Dân Đảng được thành lập. Tôn Dật Tiên đảm nhận chức chủ tịch và đưa phương án của thuyết Tam Dân Chủ nghĩa do ông phác thảo ra làm nền tảng cho chương trình của đảng này. Tôn Dật Tiên qua đời năm 1925. Dưới thời những người kế nghiệp ông, phương án của thuyết Tam Dân Chủ nghĩa không được thực hiện.   Mặc dù thất bại, cho tới ngày nay Tôn Dật Tiên vẫn còn được người Trung Quốc xem như là người cha của một Trung Quốc Cộng hòa.   Cùng với sự chấm dứt cai trị của hoàng đế, những năm tháng của một đạo quân tiên phong trẻ tuổi cũng bắt đầu, những người mà với các ý tưởng của họ đã đóng góp vào cho một sự khởi dậy về tinh thần và cho một cuộc cách mạng văn hóa. Đại học Bắc Kinh trong những năm 1916 đến 1926 đã trở thành trung tâm cho các hoạt động của họ.   Thái Nguyên Bồi đã học đại học về lịch sử nghệ thuật, triết học và tâm lý học ở Berlin và Leipzig. Sau khi nước Cộng hòa thành lập năm 1912, Tôn Dật Tiên đã mời ông giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Thái nghe theo lời kêu gọi, nhưng quay trở lại Đức ngay lập tức sau khi Tôn thất bại. Mãi đến những năm sau này ông mới có thể toàn tâm lo xây dựng một hệ thống giáo dục hiện đại mà cho đến ngày nay ông vẫn còn được xem như là người đã sáng lập ra nó. Hệ thống do ông tạo ra từ bỏ các truyền thống Khổng Tử cổ điển và có hướng đến các gương mẫu Phương tây với trường tiểu học, trung học và đại học của nó.   Trong thời gian là hiệu trưởng của trường Đại học Bắc Kinh, Thái đã nhận những người trí thức tự do trẻ tuổi làm giáo sư và giảng viên, những người mà tất cả họ cũng như ông đã được đào tạo theo lối cổ điển và sau đó, trong lúc học đại học ở Mỹ, Âu hay Nhật đã tiếp xúc với những ý tưởng mới. Trong số họ là Trần Độc Tú, người đã học đại học ở Nhật và Pháp. Sau khi trở về, ông thành lập tờ báo Thanh Niên Mới để tuyên truyền những ý tưởng mới của Phương Tây và kêu gọi giới trẻ Trung Quốc chống lại trật tự xã hội cũ. Ông lên án Đạo Khổng như là nguyên nhân cho sự lạc hậu và đàn áp, và ủng hộ dân chủ và khoa học hiện đại. Các tin tức về thành công của Cách mạng Tháng Mười ở Nga, nước cũng lạc hậu tương tự như Trung Quốc, khiến ông quan tâm tới Chủ nghĩa Marx. Cũng mang ấn tượng về những gì đang xảy ra ở Nga là đồng nghiệp của ông, Lý Đại Chiêu, người đã tiếp xúc với tư tưởng Marx ngay từ lúc còn học ở Nhật. Lý thuộc trong số những người mở đường cho Chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc. Lúc đầu, ông làm việc trong một thư viện rồi sau đó là giáo sư của Đại học Bắc Kinh. Trong số những người giúp việc trong thư viện của ông có một người con trai nông dân trẻ tuổi từ tỉnh Hồ Nam: Mao Trạch Đông.   Hồ Thích đi theo một con đường khác, người đã học về triết học ở Hoa Kỳ. Với lời kêu gọi “Hãy dẹp bỏ cái cửa hàng Khổng Tử!”, ông cũng chống lại những giá trị của đạo Khổng và ủng hộ một định hướng đến gương mẫu Phương Tây. Nhưng khác với Trần Độc Tú và Lý Đại Chiêu, ông khước từ một cực đoan chính trị. Không phải cách mạng, mà là tiến hóa mới là con đường cách tân Trung Quốc, cùng với sự dẫn nhập khoa học và kỹ thuật hiện đại và xây dựng một hệ thống chính phủ dân chủ, cái vì sự rộng lớn vượt bực của Trung Quốc mà cần nên theo nguyên tắc liên bang. Với lời yêu cầu của mình, không dùng chữ viết cổ điển trong văn học, tức là ngôn ngữ của các học giả, mà nên dùng ngôn ngữ bình dân dễ hiểu hơn, ông ấy đã tạo một động lực quyết định để cải mới văn học. Hồ Thích là một trong những người đầu tiên yêu cầu bảo vệ quyền con người, cái ông nhìn thấy bị đe dọa sau khi Quốc Dân Đảng lập chính phủ năm 1928 và quay trở lại một chính quyền tập trung.   Một trí thức cách mạng khác ở Đại học Bắc Kinh là Lỗ Tấn (1881 – 1936), người ngày nay được xem như một trong các nhà văn quan trọng nhất của Trung Quốc hiện đại. Khi còn là sinh viên y khoa ở Nhật, ông đã nhận ra rằng chỉ có thể cứu chữa cho đồng bào của mình khi hướng dẫn họ tới một lối suy nghĩ khác nhờ vào những từ ngữ được in ra. Vì vậy mà ông ấy là một trong các nhà văn đầu tiên đã viết các tác phẩm của mình trong ngôn ngữ bình dân hiện đại. Trong đó, ông lên án hết sức rõ ràng những tình trạng tồi tệ trong xã hội. Do không cảm thấy thuộc vào đảng nào nên ông không khoan dung cho cả những người bảo thủ lẫn những người tiến bộ trong phê bình của ông. Ai ai cũng sợ cái lưỡi nhọn của ông. Ông buộc tội những người theo đạo Khổng rằng họ đã vi phạm chính những giá trị cao cả của họ, và buộc những người dân chủ là đạo đức giả. Ông có ảnh hưởng mạnh đến giới trí thức trẻ. Cho tới ngày nay, các truyện kể của ông hầu như không mất đi tính thời sự.   Sau này, Mao Trạch Đông nói về những người thời đó tụ tập quanh hiệu trưởng đại học Thái Nguyên Bồi, rằng họ hầu như không để ý đến ông, người phụ việc trong thư viện. Làm sao mà họ có thể đoán được rằng người con trai nông dân trẻ tuổi từ Hồ Nam rồi sẽ có lần đặt dấu ấn mang tính quyết định lên sự việc cải mới Trung Quốc?   Yu-Chien Kuan (Quan Ngu Khiêm) Phan Ba dịch   * *   Đất nước này cần hệ thống nào? (phần 2) Yu-Chien Kuan (Quan Ngu Khiêm)   Phan Ba dịch Tháng Bảy 24, 2013 1 phản hồi https://phanba.wordpress.com/2013/07/24/dat-nuoc-nay-can-he-thong-nao-phan-2/   Từ con trai nhà nông trở thành “hoàng đế” đỏ   Các sự kiện quanh ngày 4 tháng 5 năm 1919 là động cơ chính: niềm tin của giới trí thức trẻ, đứng trước sự lạc hậu của Trung Quốc đã hướng tới những tư tưởng tự do Phương Tây, bị lay động mạnh. Các tấm gương Phương Tây của họ, nhất là người Mỹ, những người rất thích nói về quyền tự chủ của các dân tộc, không muốn cho người Trung Quốc có những điều đó. Với Hiệp ước Versailles, các vùng đất trước thuộc nước Đức trong Trung Quốc được giao lại cho người Nhật. Qua đó, tất cả các hy vọng của một Trung Quốc độc lập và tự chủ đã tiêu tan. Sinh viên nổi giận của Đại học Bắc Kinh sau đó đã tổ chức những cuộc biểu tình sôi sục, lan rộng khắp nước trở thành một phong trào chống đối yêu nước kéo dài nhiều tháng và đã dẫn tới đình công trong các nhà máy và tẩy chay hàng hóa Nhật. Có người gọi các sự kiện này là sự thức tỉnh của quốc gia Trung Hoa. Một nhận thức dân tộc mạnh mẽ tác động đến tất cả các tầng lớp quần chúng và bắt buộc chính phủ Trung Quốc từ chối không ký vào Hiệp ước Versailles. Các cuộc nổi dậy đã đi vào lịch sử Trung Quốc như là “Phong trào ngày Bốn tháng Năm”. Chúng đánh dấu lần bắt đầu của Trung Quốc hiện đại, vì với những cuộc phản đối đó, các sinh viên đã tạo ra một phong trào cách mạng mạnh mẽ, bắt đầu cuộc đấu tranh chống lại trật tự xã hội cũ. Qua phá vỡ các cấu trúc phong kiến và hiện đại hóa rộng khắp, xã hội sẽ được giải phóng khỏi xiềng xích của truyền thống, cái được xem như là nguyên nhân cho sự yếu ớt của quốc gia. Từ các sự kiện của 1919, sinh viên Bắc Kinh tự xem mình như là đội quân tiên phong về chính trị.   Trên đường tìm gương mẫu mới, những cái có thể dẫn đất nước họ ra khỏi sự khốn cùng của lạc hậu, tầm nhìn của giới trí thức trẻ được hướng đến Moscow và Chủ nghĩa Marx hơn một lần.   Mao Trạch Đông, con trai của một nông dân khá giả, đã tốt nghiệp khóa đào tạo giáo viên ở Trường Sa, trước khi ông đến Đại học Bắc Kinh năm 1918. Tuy ngay trong năm 1919 ông đã trở về lại Trường Sa để dạy ở một trường tiểu học, nhưng lần gặp gỡ các giáo sư và cũng là những người theo Chủ nghĩa Marx Lý Đại Chiêu và Trần Độc Tú đã có ảnh hưởng lâu dài đến ông. Năm 1921, cùng với hai người này, ông thuộc vào trong số những người thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuộc họp thành lập Đảng ở Thượng Hải bổ nhiệm ông làm bí thư của tỉnh Hồ Nam là quê hương của ông, và qua đó đã đặt viên gạch đầu tiên cho sự nghiệp chính trị nổi tiếng của ông.   Từ khi triều đình bị lật đổ năm 1911, các tướng lĩnh địa phương thống trị nhiều vùng rộng lớn của đất nước nhiều năm liền. Để cuối cùng rồi cũng tái lập được sự thống nhất của đất nước, những người Cộng sản quyết định cùng với những người của phái dân tộc chủ nghĩa chống lại giới quân đội. Thế nhưng liên minh này tan rã chẳng bao lâu sau đó. Sau cái chết của Tôn Dật Tiên năm 1925, Tưởng Giới Thạch tiến lên trở thành quyền lực quyết định trong Quốc Dân Đảng và cũng trở thành chính trị gia dẫn đầu của đất nước sau khi sự thống trị của các tướng lĩnh địa phương chấm dứt. Với sự thăng tiến này của một cựu quân nhân chuyên nghiệp, cuộc cách mạng dân chủ chấm dứt. Dưới thời Tưởng Giới Thạch, đất nước phát triển trở thành một chế độ quân sự độc tài, cái sau một cuộc nội chiến gây nhiều tổn thất để chống lại những người theo Đảng Cộng sản đã tìm thấy sự chấm dứt của nó năm 1949.   Năm 1927, Tưởng Giới Thạch đã gây thảm bại đầu tiên cho những người cộng sản. Những người này tổ chức một cuộc biểu tình ở Thượng Hải, bị đập tan một cách đẫm máu theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Hàng nghìn công nhân và người Cộng sản bị giết chết trong lúc đó. Sau đó, người Cộng sản phải rút lui về nông thôn. Do vậy mà Mao Trạch Đông bắt đầu thăng tiến trong Đảng. Vì khác với các lực lượng theo gương mẫu Nga, nhìn đội ngũ công nhân như động lực cho những biến đổi tận gốc, Mao cho rằng một cuộc cách mạng ở Trung Quốc chỉ có thể xuất phát từ nông dân. Giới công nhân lúc đó chiếm chưa tới 1% của toàn dân cư trong khi nông dân chiếm hơn tám mươi phần trăm. Mao nhận ra rằng, cách mạng, khác với trong nước Nga, phải được mang từ làng mạc vào thành phố. Nhờ nhận thức này mà ông chiến thắng được các đối thủ của ông, những người tiếp tục giữ chặt lấy đường lối của Nga và đứng trong mâu thuẫn sâu sắc với ông. Thế nhưng họ tiếp tục thất bại trong khi Mao với các cơ sở du kích ở nông thôn đã có thể tăng cường ảnh hưởng của những người Cộng sản ở nông thôn một cách bền vững. Ông giành lấy thiện cảm của nông dân bằng cách thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất trong những vùng do người Cộng sản kiểm soát, và chia ruộng đất về cho những người nông dân nghèo và không có đất.   Đối với Tưởng Giới Thạch, cuộc chiến chống những người Cộng sản quan trọng hơn là cuộc chiến chống người Nhật xâm lược, những người năm 1931 đã chiếm đóng miền Bắc Trung Quốc. Qua đó, ông không những đã mất đi nhiều thiện cảm trong người dân mà còn cả trong Quốc Dân Đảng của ông nữa. Trong nhiều chiến dịch bao vây, ông cố gắng tiêu diệt những người Cộng sản. Năm 1934, với chiến dịch lần thứ năm và cũng là chiến dịch cuối cùng, ông đã bắt buộc họ phải rời bỏ các cứ điểm của họ ở miền Trung và Nam Trung Quốc. Sau đó, khoảng 100.000 chiến binh Cộng sản đã phá vòng vây của địch thủ, và mặc dù bị tấn công và rượt đuổi, sau một cuộc bộ hành gần 12.000 kilômét kéo dài tròn một năm dài đã tới được miền Bắc của đất nước, nơi họ xây dựng một cơ sở mới trên vùng Cao nguyên Hoàng thổ thuộc miền Bắc Thiểm Tây, ở Diên An. Chưa tới một phần mười của đạo quân ban đầu đến được nơi đó. Ai sống qua được cuộc Vạn Lý Trường Chinh huyền thoại này, người đó có uy quyền hết sức đặc biệt. Mao Trạch Đông sở hữu nó và trong những năm sau này là cả Đặng Tiểu Bình.   Vào những năm đầu của cuộc đời chính trị, Mao vẫn còn cách rất xa phong cách cai trị chuyên quyền của ông sau này. Khi có thể nhìn thấy được, rằng người Nhật sẽ tiếp tục các chiến dịch xâm chiếm của họ về phía Nam, ông kêu gọi người Quốc gia cùng nhau kháng chiến. Chỉ khi thống nhất tất cả các lực lượng và giai cấp lại thì người ta mới có thể chiến thắng được kẻ thù. Tại Hội nghị Toàn quốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tháng 5 năm 1937 ở Diên An, ông đọc một bài diễn văn về cuộc kháng chiến chống những người Nhật xâm lược. Dưới đoạn “Cuộc chiến đấu vì dân chủ và tự do”, có thể đọc trong tập đầu tiên của Tuyển Tập Mao của ông, cái cũng có thể xuất phát từ những người đối lập của ngày hôm nay vì nó vẫn còn mang tính hiện hành: “Trung Quốc phải bắt đầu tiến hành cải tạo dân chủ ngay lập tức theo hai hướng sau đây: thứ nhất, trong lĩnh vực hệ thống chính trị, phải thay thế hệ thống chính phủ của chế độ độc tài phản động của một đảng phái và một giai cấp […] bằng một hệ thống chính phủ dân chủ dựa trên sự cộng tác của tất cả các đảng phái và tất cả các giai cấp. […] Thứ nhì là về tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội cho nhân dân. Không có những tự do này thì người ta sẽ không thể thực hiện được công cuộc cải tạo dân chủ hệ thống chính trị được […].”   Khi Mao cuối cùng rồi nắm được quyền lực thì dường như những yêu cầu đó đã bị lãng quên. Ngay lời nói đầu của Hiến Pháp năm 1954 cũng đã nhấn mạnh tới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong nhà nước mới, chỉ họ là có quyền quyết định. Họ quyết định chính phủ cần phải làm gì. Và những gì Đảng Cộng sản quyết định là do người chủ tịch đầy quyền lực Mao Trạch Đông quyết định. Ông đứng ở trên cao nhất, trên Đảng. Không ai có thể kiểm soát ông, không ai có thể ngăn chận ông. Ông không chấp nhận những ý kiến khác, và ai không cúi mình trước ý muốn của ông thì đến một lúc nào đó sẽ bị tiêu diệt. Qua đó, ông tương ứng với một thành ngữ xưa của Trung Hoa: “Nhất sơn bất dung nhị hổ.” Ông là nhà cai trị chuyên chế, viên hoàng đế mới. Một hoàng đế đỏ. Lời nói của ông là đạo luật. Huyền thoại về cuộc chiến chống lại những kẻ thù trong và ngoài nước và lần thành lập nhà nước cũng như những hy vọng gắn liền với cá nhân ông về một xã hội xã hội chủ nghĩa hạnh phúc chẳng bao lâu sau đó đã lên đến tột bậc trong sự tôn sùng cá nhân có một không hai. Và cũng như những kẻ thù trước đây đã không đối xử nhẹ nhàng với những người Cộng sản trước 1949, Mao cũng thể hiện giống như thế trong cung cách đối xử với những địch thủ được tuyên bố và bị phỏng đoán của ông trong và ngoài Đảng.   Yêu cầu nắm quyền lực của Đảng Cộng sản cả ngày nay cũng được gắn chặt vào trong Hiến Pháp Trung Quốc. Ngày nay, trong điều một của nó, định nghĩa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới nền chuyên chính dân chủ của nhân dân: “Hệ thống xã hội chủ nghĩa là hệ thống cơ bản của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cấm bất cứ tổ chức hay cá nhân nào phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa.” Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và được hướng dẫn bởi Chủ nghĩa Marx-Lênin, nhờ vào tư tưởng Mao Trạch Đông và các lý thuyết của Đặng Tiểu Bình mà nền chuyên chính dân chủ của nhân dân được giữ vững.   Đảng Cộng sản nắm quyền toàn trị. Không có phân quyền lẫn kiểm soát. Các ý kiến khác biệt không được hoan nghênh. Không được phép hoài nghi về yêu cầu lãnh đạo của Đảng. Chỉ chính Đảng mới có quyền suy nghĩ về việc đó và quyết định liệu họ có sẵn sàng phân chia bớt quyền lực hay không và bao nhiêu.   Yu-Chien Kuan (Quan Ngu Khiêm) Phan Ba dịch   […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s