Tôi chỉ không đau đớn khi tôi viết

Helge Timmerberg

Helge Timmerberg là một trong những nhà báo tác giả bị tranh cãi nhiều nhất, nhưng cũng là một trong những người thành công nhất. Trong những bài phóng sự thẳng thắn đến mức không thương xót, mang tính phiêu lưu mạo hiểm của anh mà trong đó anh sử dụng lối nhìn  hài hước cũng như bi kịch, anh hoặc là được yêu thích hoặc là bị căm ghét, không có gì ở giữa đó. Đối với người này thì anh là một người kể chuyện thiên tài, đối với những người khác thì là một tên lang băm kiêu ngạo, người phớt lờ tất cả các luật lệ về hình thức và nội dung của ngành này với sự ngạo mạn chưa từng thấy. Tất nhiên là lời buộc tội này không phải là do độc giả của anh đưa ra, mà là do các công nhân truyền thông đưa ra, những người trước lực mạnh các bài viết của anh, những cái chỉ nhắm tới con tim chứ không nhắm tới trí óc, cảm thấy mình không đủ khả năng trong lúc biên tập lại. Nhất là khi họ chẳng có cơ hội nào trong lúc xử lý cả, vì hầu như không có ai canh giữ những dòng ý tưởng đã tuôn trào ra của mình một cách nghiêm ngặt như Helge Timmerberg.

Trong khi đó thì con người được cho là bay bổng này đã từng bám sát thực tiễn nhiều năm dài. Anh hưởng sự êm ấm của thời gian đào tạo báo chí ở Minden/Westfalen [Đức]. Việc anh có thể tiến bước xa như thế này là nhờ vào một cảm hứng thời niên thiếu, cái thật ra là đi ngược lại với các kế hoạch của anh. “Năm 17 tuổi, tôi đã đi lang thang từ Bielefeld [Đức] tới Himalaya”, anh nhớ lại. Ở đó, tôi bước vào một thiền viện để ở lại mãi mãi và được giác ngộ. Rồi thế nào? Trong lúc thiền, tôi gặp phải tiếng nói nội tâm của tôi, và nó nói rằng: ‘Hãy đi về nhà và trở thành nhà báo!’ Thế là tôi lang thang trở về và tìm đến ban biên tập của tờ Neue Westfälische. Ông tổng biên tập ngồi ở đó dưới cái đồng hồ của ông ấy, cái đang từ từ chỉ tới sáu giờ. Điều mà lúc đó tôi còn chưa biết: Sáu giờ là deadline cho một tờ nhật báo. Không phải là thời điểm tốt, để kể cho ông ấy nghe về tiếng nói nội tâm của tôi. Tôi không học đại học. Tôi không có bằng tốt nghiệp phổ thông. Tôi có tóc dài. Và ông ấy có cả ngàn lý do để quẳng tôi ra ngoài. Nhưng ông ấy đã không làm vậy. Ông ấy nghe tôi nói để nhớ xem là ông biết gương mặt của tôi từ đâu. Tới một lúc nào đó thì ông ấy nhớ ra. Ông tổng biên tập là bạn nhậu của cha tôi! Tôi được phép viết thử năm bài. Ông ấy thích chúng. Thế là tôi nhận được chân học nghề. Con đường dẫn tôi vào báo chí là như vậy đó, mặc dù tôi không thích nhà báo cho lắm. Đối với tôi, họ quá là trí thức, tự xem mình quá quan trọng, chẳng tin vào điều gì cả và lúc nào cũng hiểu biết mọi thứ tốt hơn.”

Nhiệm vụ đầu tiên của anh trong ban biên tập tin địa phương là viết bốn dòng chú thích cho một tấm ảnh về lần khai mạc của một nhà trẻ. Anh đã cần bốn giờ đồng hồ cho việc đó, cần phải thật là tốt mà. Nhưng vì về lâu về dài thì người ta không thể thận trọng như thế trong công việc hàng ngày của ban biên tập được nên anh học cách thỏa hiệp. Vì cuối cùng thì có nhiều việc phải làm lắm. Vùng đó có trên 5000 hội thể thao, 7000 người nuôi gà và 10.000 công ty của thợ thủ công. Tất cả họ đều chen nhau lên báo. Hàng trăm đám cưới vàng muốn được nhắc tới, máy điện báo nhả tin tức mới nhất của cảnh sát ra, và cũng không được phép xem nhẹ chính trị địa phương. “Tất cả đều phải làm xong vào buổi trưa”, Timmerberg vừa mỉm cười vừa nói. “Chúng tôi còn tự chụp ảnh và rồi rửa ảnh nữa. Trong khi đó thì còn phải viết bài và nhận điện thoại. In ở Bielefeld. Tất nhiên là còn chưa có dấu vết gì của xa lộ thông tin. Lúc đó còn chưa có cả máy fax nữa. Vì vậy mà đến trưa bản kẽm phải được mang ra tàu hỏa.” Nghe có vẻ như tiếng nói nội tâm đã tặng cho anh rất nhiều stress. “Chúng tôi chỉ có bốn người thôi. Ông tổng biên tập là người rất nóng tính và hay cáu gắt, phó của ông ấy nghiện rượu, và anh chàng phóng viên thì trông giống như thám tử Nick Knatterton trong loạt tranh comic của tờ tạp chí Quick. Và sáng nào vào lúc chín giờ thì đội ngũ này cũng bị trận ngập lụt có tên là thơ từ cuốn trôi đi mất.”

Sau khi học nghề, Timmerberg tạm thời cảm thấy thế là đã đủ với nghề nghiệp trong mơ của mình. Anh xin nghỉ việc và khai trương một nhà hàng chay ở Bielefeld, đầu tiên hết thảy trong vùng Ostwestfalen. “Nhưng chỉ sau một năm thôi thì tôi đã phá sản cho tới mức tôi lại đi làm báo. Nhật báo Wolfenbüttel, Nhật báo Braunschweig, Nhật báo Goslar. Ở Goslar, họ gửi tôi đến một sự kiện tranh cử của một ông thuộc đảng SPD [Đảng Dân chủ Xã hội Đức] từ Hannover, người mà tôi đã xé nát lần xuất hiện của ông ấy. Cả ban biên tập đã reo mừng. Trong tuần sau đó, đối thủ của ông ấy từ đảng CDU [Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo] tới, người mà tôi cũng bình luận xấu y như thế. Sau đó, tôi không bao giờ được phép làm mảng chính trị nữa. Chỉ các để tài như: Hãy cẩn thận, có nai con ở bìa rừng! Không được phép sờ vào, nếu không thì mẹ nó không nhận nó nữa! Giống như thế.”

Thời đó, anh sống cách cơ sở thí nghiệm chất thải nguyên tử Asse hai kilômét, “nơi đã có tám trăm ngàn tấn chất thải phóng xạ đang nằm mốc meo ở đó”. Là biên tập viên mảng tin địa phương và là thành viên của ‘Danh sách Xanh Bảo vệ Môi trường’, anh thường hay lái xe vào đó. Anh viết một bài về tình trạng trong Asse và gửi nó đến báo Stern. Sau ba tháng dài dằng dặc mà trong đó mỗi tuần anh gọi điện hai lần, cuối cùng câu chuyện cũng được đăng. Đối với Timmerberg thì đã đủ lý do để dọn đến ở tại Hamburg, nơi mà bắt đầu từ đó, anh kiếm tiền sống qua ngày như là công tác viên tự do cho mảng tiêu khiển của tờ Stern.

Sự kính trọng vào lúc ban đầu mà anh biên tập viên tỉnh lẻ bé nhỏ dành cho gã truyền thông khổng lồ Stern đã nhanh chóng biến mất. “Trong những câu chuyện của tôi, tôi cũng muốn nhìn sự việc từ khía cạnh khôi hài. Nhưng ở Stern thì người ta luôn gạch bỏ những đoạn đó của tôi. Với lập luận điên khùng, rằng chuyện đùa thuộc trang 13! Anh có biết chữ viết tắt GVSS không? Nó thường được dùng ở Stern. Anh ngồi trong cuộc họp, và người trưởng ban nói: ‘Bài của anh okay, nhưng cần phải có thêm một chút GVSS nữa.” GVSS là Giả Vờ Sâu Sắc. Không đùa đâu.”

Helge Timmerberg đã làm việc cho các nhật báo địa phương cũng như trên toàn quốc. Bài của anh xuất hiện cả trong tờ Süddeutsche lẫn trong Neuer Zürcher hay Bild. Anh viết cho ZeitStern cũng như cho Playboy, Tempo, MerianBunte. Những người phê phán anh lên án rằng anh bán thân cho bất cứ ai trả đủ tiền. Timmerberg buồn cười lắc đầu: “Tư tưởng phe phái này là tầm bậy”, anh nói, “ở đây là các nhà báo tự do cánh tả và ở kia là cánh hữu, tất cả đều là vô lý. Đó là vì tiền, đó là vì thị phần, đó là vì một giới độc giả nhất định, cái mà người ta dựa lên trên đó. Anh có thể để cho Walter Mayer của tờ Bild làm tờ Spiegel ngay lập tức hay là ngược lại. Những người đó là dân chuyên nghiệp, không phải là những người mang lý tưởng. Họ sẵn sàng ngay lập tức cho mỗi một nhiệm vụ mới.”

Tới một lúc nào đó, viết cho tờ Süddeutsche hay cho tờ Bild đối với anh cũng như nhau. Cho tới chừng nào mà anh không phải uốn cong mình và viết ngược lại với ý kiến của anh thì việc đó hoàn toàn không có vấn đề gì cả, như anh nói. “Lối suy nghĩ phe phái là một thể hiện của sự kiêu căng. Nhiều nhà báo thích dấu mình sau nhãn hiệu của tờ báo, tạp chí hay đài phát thanh truyền hình mà họ làm việc cho nó. Ông Spiegel và bà Stern … hai tuýp người không thể chê vào đâu được, phục vụ cho quyền lực thứ tư, phê phán và không ăn hối lộ, những người canh giữ nền dân chủ. Những người đó thông thường thì cũng thích công danh sự nghiệp, quyền lực và quan tâm đến tiền bạc của họ như bất cứ ai khác. Thần thánh hóa nhà báo, việc thật ra chỉ từ các nhà báo mà ra, khiến cho người ta đã muốn phát ngượng rồi. Khi tôi nghe về trách nhiệm của nhà báo và rồi nhìn thấy những người đó thì đại đa số đều là đạo đức giả. Tất nhiên là cũng có người tốt, chính trực, nói thật lòng, những người hành động vì niềm tin, nhưng phần lớn thì tôi không tin họ.”

Thế thì trách nhiệm của truyển thông là gì, và anh định nghĩa trách nhiệm của mình ra sao? Anh suy nghĩ tương đối lâu. Rồi anh nói: “Tôi ở Nam Ấn Độ năm 2002, khi dịch hạch bùng phát trong thành phố Surat hai triệu dân. Tất nhiên là truyền thông Ấn Độ đã tường thuật thật tận tường về việc này, ồn áo như có báo động, cái chỉ dẫn tới việc 600.000 con người hoảng sợ chạy trốn ra khỏi Sursat. Họ sợ đến dựng tóc gáy, họ giật sập rào cản đường và chiếm những đoàn tàu có canh gác. Bằng cách đó, dịch hạch đã lan truyền khắp Ấn Độ. Tại những trận dịch hay những mối nguy hiểm khác, báo chí giống như dầu được đổ vào lửa. Cả tại khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế, cách làm báo điều tra giải thích phản tác dụng nhiều hơn. Khi người dân đọc mỗi ngày, rằng tình hình tiền bạc và ngân hàng xấu tới như thế thì tiêu dùng sẽ chấm dứt. Ở đó, giới truyền thông thật ra chỉ là cái tăng cường vấn đề. Ở đó thì người ta có thể chứng tỏ mình có trách nhiệm, nếu như người ta không tường thuật về việc đó. Nhưng điều đó thì hẳn là đòi hỏi quá nhiều.”

Còn về trách nhiệm của bản thân trong thời khủng hoảng thì sao? “Tôi cảm thấy tôi có trách nhiệm nào trong thời khủng hoảng này ư? Cái trách nhiệm mà tôi luôn cảm thấy. Tôi muốn làm cho con người cười lên. Cười là một món quà to lớn. Nó kéo con người ra khỏi cái thung lũng than thở của anh ta trong một thời gian ngắn, anh ta ở đâu cũng vậy. Tôi chỉ không đau đớn khi tôi viết. Khi bạn đọc bất chợt cũng cảm thấy không đau đớn nữa, vì anh ấy cảm động hay cảm thấy đã giải trí tốt, thì tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nội tâm của tôi rồi. Nó tự giới hạn nó ở việc viết tốt như có thể, dẫn dắt càng gần càng tốt tới những gì là niềm tin sâu sắc nhất của tôi và những gì tương ứng với phong cách của tôi. Cây cối chết vì những bài viết nhàm chán đã đủ rồi. Trách nhiệm của tôi là nhìn xem những gì làm cho tôi cảm động. Và truyền đạt lại điều đó, tốt như có thể. Việc chúng ta là nhà báo có thể làm thay đổi được thế giới là điều vô lý. Chúng ta có thể bắn gục chính trị gia, nhưng điều đó không thay đổi được thế giới, vì lại đến lượt người kế tiếp ngay lập tức. Tôi thấy phần lớn hoạt động báo chí đơn giản chỉ là đạo đức giả.”

Timmerberg trải qua vụ nổ nguyên thủy trong nghề báo của mình vào thời Stern. Lúc nào đó, anh đọc được trong Rolling Stone một bài phóng sự của Hunter S. Thompson (“Fear and Loathing in Las Vegas”), người là King of Gonzon, cha đẻ của New American Journalism. “Tôi nghĩ, những người ở đây đều điên hết cả rồi. Thế là tôi viết lại theo lối Thompson cho cả câu chuyện tôi đang viết cho Stern. Nó không được xuất bản, và nó cũng là cái cuối cùng mà tôi được phép làm cho Stern.”

Khái niệm phong cách báo chí Gonzo mô tả một cách viết phóng túng, cá nhân. Trong một bài đánh giá Thompson, tờ Zeit đã viết sau cái chết của ông ấy trong năm 2005: “Ông là sự tự trả thù của nước Mỹ. Ông là cái tư tưởng xấu xa, là lương tâm cắn rứt, ông là tính vui vẻ. Ông là cái mặt đen tối và ngọn lửa đốt cháy nó. Ông yêu tự do, sự bao la, tính phóng túng. Ông nói chung là một người vừa yêu thương vừa căm ghét, trong cuộc sống cũng như trong viếc lách, cái mà ở ông lúc nào cũng là một.” Helge Timmerberg hết sức có ấn tượng với phong cách viết này. Bắt đầu từ lúc đó, anh chỉ còn viết những câu chuyện của anh dưới dạng tôi, và không lâu sau đó, anh đã tìm được một phong cách không thể nào nhầm lẫn được. “Từ khi tôi biết Hubter S. Thompson, tôi không còn giống như một người chưa từng bao giờ gần một cô gái điếm khi anh ta viết về mãi dân. Hay là người chưa từng bao giờ dùng thuốc phiện khi viết về thuốc phiện.” Bạn đọc của anh yêu thích anh vì lẽ đó. Phần lớn họ còn đi theo anh khi anh giới hạn tối đa việc xuất bản trong truyền thông in đề có thể viết sách được nhiều hơn. Người đọc Timmerberg cũng trở thành người đọc sách, và họ đã thích thú trong lúc đó.

Trong năm vừa rồi, anh đã chu du châu Phi bảy tháng. Các ấn tượng được phản ánh lại trong tác phẩm mới nhất của anh African Queen. “Khi tôi trở về từ châu Phi, những nỗi lo sợ trong cuộc sống của tôi cứ như bị thổi bay đi mất”, anh nói. “Cái tồi tệ nhất có thể xảy ra cho tôi trong nước Đức là nhà nước trả tiền cho căn hộ của tôi, là họ sẽ trả tiền sưởi ấm, tiền điện, Internet, quần áo của tôi và ngoài ra còn cho tôi đủ tiền túi để tôi không phải đói. Đối với một người Phi thì đó là một sự tưởng tượng giống như trên Thiên Đàng. Nếu anh ở trong một nền văn hóa như vậy một thời gian và rồi trở về Đức, thì rồi anh sẽ tự hỏi vấn đề ở đây là gì? Người Phi bơi qua Địa Trung Hải, nếu bắt buộc, để có thể đến được với tình cảnh an sinh xã hội đó. Đói kém, hạn hán, thiếu nước – ở châu Âu thì người ta không trải qua tất cả những thứ đó.”

Helge Timmerberg bi quan cho châu Phi. “Nếu như không ở đúng nơi hoang dại, mà là ở nơi con người sinh sống, trong các thị trấn và thành phố, bất cứ ở đâu trên châu Phi, thì rồi anh sẽ có cảm giác như trong vũ trụ nhất định là đã từng phải có một hành tinh bằng nhựa dẻo, nó đã nổ tung ra, rồi trở thành một siêu tân tinh bằng túi nhựa dẻo rơi xuống Trái Đất. Nhận thức sinh thái? Rõ rồi, người châu Phi nói, nếu các anh đưa tiền viện trợ thì chúng tôi cũng sẽ sinh thái nhiều hơn, nếu các anh muốn thế. Người ta không thể ép buộc có được nhận thức sinh thái, tất cả đều là vì tiền.” Anh kể về một dự án hết sức thành công của một khu nhà nghỉ cạnh hồ Malawi ở Mozambique, một vùng cực kỳ chậm phát triển, hoàn toàn không có hạ tầng cơ sở. Khu nhà nghỉ được xây bởi những người trước đó đã làm việc ở Phi châu cho UNO và UNESCO nhiều năm liền. Nó là một khu nhà sinh thái kiểu mẫu, được xây dựng theo các định luật của sinh học xây dựng và tự cung cấp năng lượng. Có 80 nhân viên làm việc ở đó, tất cả đều là người ở trong vùng.  Họ được đào tạo thành đầu bếp, làm vườn hay thợ mộc. Theo thống kê, mỗi một người Phi châu có việc làm nuôi sống thêm mười bốn người nữa. Tức là có trên một ngàn người bản xứ sống nhờ vào khu nhà  nghỉ. Nó kiếm tiền nhờ vào khách du lịch, những người sẵn sàng trả 300 dollar một ngày cho nơi nghỉ này. Khu nhà nghỉ xây trường học và nhận thầy giáo vào dạy. “Những người điều hành cố hết sức để chỉ cho người dân bản địa thấy rằng họ cần phải sử dụng tài nguyên ngày một ít đi của họ như thế nào”, Timmerberg nói, “rằng thay vì cứ tiếp tục đốn những cánh rừng gỗ tếch của họ thì tốt hơn là nên dựa vào du lịch sinh thái. Dự án tồn tại từ mười năm nay, và cả vùng đều hưởng lợi từ đó. Người ta gọi đó là giúp để tự giúp. Vấn đề tại những dự án như thế chỉ là: khi những người trợ giúp rút ra thì tất cả sẽ sụp đổ ngay lập tức.” Timmerberg cho rằng có thêm một vấn đề nữa phải chịu trách nhiệm cho tình trạng khó xử ở châu Phi. “Ngay khi có ai đó nắm lấy được quyền lực ở châu Phi thì hắn sẽ bán cả dân tộc của hắn, hắn mặc kệ. Nói rằng các tập đoàn xấu xa có lỗi, Chủ nghĩa Tân Thực dân cướp bóc châu Phi thì chỉ mới là một nửa của sự thật thôi.”

Khó mà nắm lấy được cả sự thật, ngay cả khi thông qua Helge Timmerberg. Tạp chí tip ở thành phố Berlin viết trước đây một vài năm, hơn sửng sốt cũng như khen ngợi: “Tại sao có những câu chuyện chỉ bàn về một nhà báo riêng lẻ nhưng lại được nhiều bạn đọc quan tâm tới? Một câu trả lời có thể là: Những gì được bàn đến ở đây đã nổi bật lên bởi vì tính ‘thời sự nguyên thủy’. Tức là: bề ngoài thì bài viết chỉ nói về một người riêng lẻ và những trải nghiệm cá nhân hết sức riêng biệt của người đó – nhưng ở bên trong thì đó lúc nào cũng là về tất cả chúng ta, về người thắng và kẻ bại.”

“Chỉ có ba đề tài lớn thôi”, Timmerberg nói, “tình yêu, tiền bạc, cái chết. Người ta có thể sắp xếp hầu như tất cả các câu chuyện vào trong các khái niệm này. Và ở người nào thì chúng cũng giống nhau. Nỗi lo sợ của chúng ta trước cái chết, lòng khao khát tình yêu của chúng ta, sự đau khổ của chúng ta khi thất tình. Những điều đó ai cũng biết. Ừ, thế nào đi nữa thì họ cũng không cho tôi là kiêu căng.” Anh biết quá rõ lời cáo buộc kiêu căng. “Ở những câu chuyện về cái tôi thì người ta bị cho là kiêu căng ngay lập tức, đó là một lý lẽ đánh chết người. Tôi chống lại nó từ nhiều năm nay. Kiêu căng là một tội lỗi chết người, một nhược điểm lớn, nó nằm sâu thẳm cho tới mức người ta chắc phải cần 30 năm điều trị tâm lý để thay đổi điều đó. Ý nghĩ, có ai đó được bảo vệ trước sự kiêu căng chỉ vì anh ta từ bỏ cái từ ‘tôi’ nhỏ bé, là điều phi lý. Có biết bao nhiêu người viết không bao giờ dùng hình thức tôi mà sự kiêu căng nhỏ giọt ra khỏi những hàng chữ như thứ mỡ hôi hám. Tôi chỉ dùng hình thức tôi từ một lý do: vì tôi biết rõ nhất là về tôi. Ngoài ra, tôi nghĩ rằng người ta chỉ có thể giễu cợt mà không bị trừng phạt khi giễu cợt về chính mình. Tất nhiên là điều đó chỉ có thể khi niềm mong muốn, được học hỏi và có thêm nhận thức, gắn bó thật chặt trong người. Rồi thì tại mỗi một cơ hội người ta đều nhận ra được rằng thật ra thì người ta còn cách xa cái mà người ta muốn cho tới chừng nào, và điều đó cũng có một cái gì đó buồn cười đấy.”

Phương thức ‘Hãy kể càng thật thà càng tốt về chính mình, và những người khác sẽ nhận ra họ ở trong câu chuyện của anh’ trong trường hợp của Timmerberg thì đã thành công. Anh nhớ lại nỗi đau không muốn chấm dứt, cái đã kéo dài nhiều năm sau khi chia tay với cô bạn gái của anh. Trong khi phải một mình chịu đựng nỗi đau đó, anh phải bất lực đứng nhìn những kẻ khác từ mọi phương hướng khác bâu vào mối quan hệ này, để được người yêu cũ của anh ban phát cho đặc ân này hay đặc ân khác. ‘Lúc đó, tôi sực nghĩ ra khái niệm ‘linh cẩu của quan hệ’, và ngay lập tức tôi có nhu cầu muốn viết về điều đó. Công việc đã cứu thoát tôi.”

Cái mà Timmerberg gọi là “công việc” thì trong thực tế là bài viết được đọc nhiều nhất của anh: “Nghệ thuật thôi yêu”, xuất hiện lần đầu tiên trên Tempo và sau đó được trích dẫn hàng ngàn lần. Thời gian sau này, viên châu báu đó, cái được không biất bao nhiêu là nạn nhân của tình yêu đã cảm ơn, được lưu giữ trong quyển sách Cọp không ăn thịt người tập yoga của anh. “Nếu như tờ Stern làm một câu chuyện về thất tình thì người ta sẽ cố gắng làm theo kiểu cổ điển: Họ sẽ chi cho xem chín người, tất cả đều đang thất tình, họ sẽ trích dẫn từ văn học, hỏi một nhà tâm lý, và thế là xong. Vì ở trên đó sẽ có dòng: ‘Ngày càng có nhiều người Đức …’  Tôi thì ngược lại chỉ viết về tôi và nỗi đau buồn của tôi. Nhưng vì tôi biết nó rất tốt nên tôi có thể soi rọi tình cảnh và đi theo chiều sâu nhiều hơn. Những người đã từng trải qua một địa ngục tương tự như vậy đã nhận ra câu chuyện của chính họ ở trong đó, họ đã viết cho tôi và cảm ơn. Tuy lần chia tay của họ không xảy ra ở Bangkok như tôi, mà là ở Buxtehude hay Berlin, nhưng điều đó hoàn toàn không quan trọng.”

Đối với những bài viết loại này thì tác giả phải đấu tranh cho chúng, chính Helge Timmerberg cũng đã phải trải nghiệm qua điều đó ở Tempo. Sự thông hiểu cho một lần vũ thoát y tâm hồn đầy nghệ thuật ở các biên tập viên rất giới hạn. Cũng như cho mỗi một câu chuyện khác, những cái mang vẻ quá chủ quan và thêm vào đó là được gia thêm từ ‘Tôi’ ở khắp nơi. Vì thế mà Markus Peichl, thời đó là tổng biên tập ở Tempo, rất muốn thay đổi phần kết những câu chuyện của anh. “Rồi tôi vào ban biên tập lúc chiều tối và lại đổi lại thành phiên bản nguyên thủy của tôi. Có lúc ba bốn ngày như vậy.” Khi Timmerberg xuất hiện trong ban biên tập vào một đêm nào đó để cứu thoát bài viết của mình thì Peichl đã chờ anh ở đó rồi. Cuối cùng thì anh đầu hàng. Là tác giả, khi không chấp nhận những sửa đổi thì người ta phải làu nhàu, làu nhàu, làu nhàu nhưng cuối cùng thì không được cứ khăng khăng giữ. Anh phải chiến đấu cho việc của anh. Nếu anh không làm điều đó thì anh quá yếu ớt, rồi thì sau này anh cũng không được phép khiếu nại.” Điều hết sức quan trọng cho các tác giả, theo Timmerberg, là giữ gìn phong cách riêng, nét đặc sắc riêng của mình. Các ban biên tập thường có khuynh hướng mài dũa bài viết các tác giả của họ, để chúng đừng chống lại phong cách của báo. “Nếu anh không đấu tranh cho những gì mà anh cho là đúng thì họ làm cho anh trở thành nô lệ. Đã từng có một cái gì đó giống như ngôn ngữ chính thức của tờ Spiegel. Cơ quan nhà nước Spiegel. Điều đó cũng có thể có nét hấp dẫn của nó, nhưng mà là tác giả trong một ban biên tập như vậy thì anh hoàn toàn có thể bị thay thế được.”

Lúc ở tờ Bunte dưới thời của Josef Wagner thì anh không bao giờ gặp phải điều đó. Đối với Timmerberg, Wagner thật ra mới là người cha đẻ của báo chí lá cải Đức. “Tất cả những gì lớn lên trong báo chí lá cải đều đi qua trường học của ông ấy. Ông ấy là ông thầy của mọi người. Từ Claus Larass qua Walter Mayer cho tới Kai Diekmann. Tất cả họ đều phải chịu đựng đau khổ dưới tay của ông ấy, ông ấy đã hành hạ người ta, cũng không còn chính đáng nữa đâu. Lúc trước, tôi lúc nào cũng nghĩ, thời gian sáng tạo nhất của tôi là thời ở tờ Tempo, nhưng ngày nay tôi phải nói rằng đó là thời cộng tác với Franz Josef Wagner. Ông ấy điên thật đấy, không chấp nhận tới một câu không gây cảm xúc nữa. Nếu ông ấy muốn mắng mỏ anh trong phiên họp thì rồi sẽ là: Helge, anh viết cứ giống như một biên tập viên của Bunte ấy! Các biên tập viên của Bunte ngồi ngay bên cạnh không biết phải đối phó như thế nào. Về một mặt thì họ vui mừng, vì tôi cũng bị la mắng, về mặt khác thì lời lẽ đó không nhất định phải làm cho họ hài lòng.”

Tại sao Bunte từ một tờ báo quê mùa trở thành một tạp chí hấp dẫn thì theo Timmerberg chỉ nhờ vào người đàn ông đó mà số phận của ông ấy ngày nay như là người viết chuyên  mục cho Bild (thư của Wagner) khiến cho anh phải buồn phiền. “Wagner không phải là người hàn lâm”, Timmerberg nói, “trong báo lá cải thì điều đó là một lợi thế vô giá. Theo tôi, việc trường đào tạo loại bỏ hầu hết những người không qua đại học là một sự phát triển sai lầm trong báo chí ngày nay. Trong những trường học của các tập đoàn, những người trẻ tuổi được dạy cho cái được gọi là nói chuyện với bạn đọc của họ. Trong báo lá cải thì đó là điều gây chết người. Anh tìm thấy những bài báo thành thật nhất của Bild ở trong mục thể thao. Phần lớn những người nhảy ngang vào nghề là ở đó.”

Do chúng tôi đang nhớ lại những người làm truyền thông nổi tiếng: Anh còn nhớ mãi không quên ai được nữa? “Fred Baumgärtel”, Timmerberg tự phát trả lời, “cựu tổng biên tập của Playboy. Ông ấy ngồi ở cái bàn màu trắng của ông ấy. Hoặc là ông ấy đội chiếc mũ lưỡi trai Porsche và mặc chiếc áo thun Mercedes hay đội nón Mercedes và mặc áo Porsche. Ở trên bàn không có gì cả, nó trống trơn và sạch bóng. Baumgärtel có lần nói với tôi rằng một tổng biên tập không cần phải làm việc, đó là một phương án hoàn toàn sai lầm, một tổng biên tập phải biểu lộ cảm giác sống của tờ báo.”

Helge Timmerberg cũng rất muốn làm điều đó, khi anh được mời nhận chức tổng biên tập của tạp chí twen vừa sống lại, cái mà vào những năm sáu mươi đã được tôn sùng. “Tuyệt, tôi nghĩ thế, thật là danh dự. Nhưng ngoài tôi ra thì ban biên tập chỉ bao gồm người art director và một người học nghề. Điều đó có nghĩa là một mình tôi phải viết cả số phát hành đầu tiên, Sau sáu tháng thì chấm dứt. Việc chúng tôi nói chung là có thể chịu đựng được lâu tới như thế là nhờ người xuất bản đã đổi nhà in sau mỗi số. Nhưng sau nữa năm thì hệ thống lừa đảo đó của ông bị bại lộ.”

Thế ai đã sẵn sàng vì trước nay cứ muốn trở thành nhà xuất bản? Jürgen Möllemann của FDP [Đảng Tự do Dân chủ Đức]. “Dưới thời Möllemann có hai số được phát hành”, Timmerberg nói. “Trong số đầu tiên, tôi làm một bài về cần sa. Hợp thức hóa! Möllemann nhất định cứ đòi được phép đọc cho được trước khi mang đi in. Rồi ông ấy tới chỗ tôi. Với cận vệ. Số báo này cực hay, ông Timmerberg, thật sự là cực hay. Và ông cũng biết rằng là nhà xuất bản thì tôi không bao giờ can thiệp vào việc làm của ban biên tập, nhưng câu chuyện với cần sa thì nói chung là không được.” Cho tới ngày nay, Helge Timmerberg vẫn còn phải phá ra cười khi nghĩ đến lần xuất hiện của phó bí thư FDP ở bang Nordrhein-Westfalen.

Möllemann không trả tiền cho số phát hành thứ nhì. Ông cũng còn thiếu tiền lương trên 5000 DM của tổng biên tập. Sau này, khi ở tờ Tempo, Timmerberg viết thư cho ông ấy, rằng ông ấy có thể đấu bóng bàn với anh, và nếu ông ấy thắng thì ông ấy không cần phải trả số tiền 5000 DM. “Möllemann chơi bóng bàn rất tốt”, Timmerberg nói, “tức là cơ hội của ông ấy không tệ đâu. Rất đáng tiếc là ông ấy không phản ứng trước lời mời công bằng của tôi.”

Ngoài ra thì trong cuộc đời làm việc nhiều phiêu lưu của mình, anh còn có thể tường thuật về lần thất bại không thể quên nào không? “Ồ, có chứ”, Timmerberg nói, “người ta có thể bị lừa như thế nào khi là tác giả, điều này thì tôi đã trải qua ở tờ Geo Saison. Họ gửi tôi lên một chiếc tàu hơi nước chạy ngược sông Rio Negro lên cho tới tận biên giới Columbia. Đó là câu chuyện.” Người ta dự tính bốn ngày cho chuyến đi này, bốn ngày nghỉ phép đi phiêu lưu mạo hiểm, ban biên tập tưởng tượng như thế đó. Ở trên tàu là khách du lịch, người đi tìm vàng, nhà truyền giáo, người lai dân da đỏ và lái buôn. Sau hai ngày, con tàu neo lại ở gần một trại của những người tìm vàng. Ở đó, Helge Timmerberg nghe rằng hoạt động thật sự của dân tìm vàng là ở trên núi Pico da Neblina, nơi 900 người đàn ông đang đào bới ngọn núi như phát sốt lên. “Thế là tôi gia nhập một nhóm lên đường đi tới đó”, anh nói, “nhưng người ta phải băng rừng hai tuần. Gặp nguy hiểm chết người mỗi ngày hai lần là việc bình thường. Tôi bị báo tấn công, thoát được một con cá sấu, và cuối cùng bị sốt đen [Leishmaniasis]. Một người dẫn đường da đỏ đã lôi tôi ra khỏi khu rừng nguyên thủy. Thế nào đi nữa thì tôi cũng nghĩ rằng đó là câu chuyện lớn nhất trong đời tôi. Rồi tôi trở về Hamburg và viết nó ra. Tôi hãnh diện đưa nó cho cô biên tập của tôi. Vào ngày hôm sau, cô gọi lại và nói rằng: Helge, chúng mình có vấn đề, rõ ràng là anh đã hiểu lầm rồi. Các bài phóng sự du lịch của chúng tôi cần phải khiến cho người đọc cảm thấy muốn thực hiện đúng chuyến đi đó.”

Hai mươi năm sau đó, câu chuyện rơi vào trong quyển sách Giêxu từ cửa hàng bán đồ kích dục của Timmerberg dưới dạng kéo dài ra. Khoảng thời gian dài đã không gây hề hấn gì cho nó. “Một câu chuyện chỉ thật sự tốt khi xúc cảm của anh không còn bám quá chặt vào nó nữa”, người đối thoại với tôi nói. “Tôi cũng có thể viết nó theo cách khóc sướt mướt, giống như tôi sau khi chia tay. Nhưng ai mà muốn đọc nó chứ? Chỉ khi anh có được khoảng cách thì anh mới nhận ra được lời nói đùa trong câu chuyện đó.”

Anh đánh giá cao tác giả nào, anh thích đọc ai? “T. C. Boyle”, anh nói, “ngôn ngữ của ông ấy giống như tựa đề của một trong những quyển sách của ông ấy – như nhạc nước. “Còn tác giả người Đức? “Tôi thấy Tom Kummer tốt, Christian Kracht. Nhưng mà thật ra thì tôi không đọc các tác giả Đức còn sống.” Botho Strauß cũng không?

“Ông ấy còn sống à?”

“Vâng”

“Thế thì hãy đợi thêm ít lâu nữa …”

Cuộc trao đổi được tiến hành vào ngày 10 tháng 1 năm 2012

Helge Timmerberg, sinh năm 1952, học nghề làm báo tại tờ Neue Westfälische. Anh được xem như là enfant terrible [đứa bé ngỗ nghịch] của ngành báo chí Đức và là người đi đầu trong phong cách làm báo kiểu Gonzo, cái nổi bật qua tính chủ quan không kiềm chế. Những bài phóng sự du lịch và mạo hiểm của anh xuất hiện trong tất cả các tờ báo quan trọng của nước Cộng hòa [Liên bang Đức], từ Süddeutsche cho tới Bild, từ Stern cho tới Playboy. Anh là một phóng viên quan trọng của tờ tạp chí về phong cách sống Tempo mà ở đó có lần anh đã làm tăng gấp đôi số báo phát hành với một bài phóng sự đình đám về công nghiệp khiêu dâm, do bị cấm bán ở bang Bayern. Anh thường xuyên xuất bản sách. Các tác phẩm quan trọng nhất: African Queen, Giêxu từ tiệm bán đồ kích dục, Cọp không ăn thịt người tập yoga, 80 ngày vòng quanh thế giới, Shiva Moon, Ngôi nhà của những con thú biết nói, Hướng dẫn du lịch của Timmerberg, Hướng dẫn sống độc thân của Timmerberg. Hiện giờ, Helge Timmerberg sống tại Wien [Áo].

Dirk C. Fleck

Phan Ba dịch

Có thể tải về loạt bài phỏng vấn các nhà báo người Đức nổi tiếng này ở trang Tủ sách Phan Ba

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s