Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 8

AL-JAZEERA Ở KATAR VÀ

CUỘC PHẢN CÁCH MẠNG Ở BAHRAIN

Lịch sử hiện đại của Katar bắt đầu trong năm 1766, khi nhiều phần của bộ tộc Bani Utub, tức các gia đình Al Khalifa và Al Jalahima, rời bỏ quê hương của họ và thành lập khu dân cư Zubara trong miền Đông Bắc của bán đảo Katar, ngày nay là một cánh đồng đổ nát rộng lớn. Lịch sử Katar trước khi các thị tộc nhiều quyền lực này tới đó phần lớn là không được biết tới. Sa mạc trong nội địa thời đó không có người sống, ngoại trừ một vài bộ tộc du cư thỉnh thoảng đi ngang qua đó, lúc nào cũng trên đường tìm bãi cỏ và nước uống. Dọc theo bờ biển, một vài gia đình lớn định cư trong những làng đánh cá nghèo, không hiếm lần là trên đường trốn tránh các mối hận thù giữa các bộ tộc. Ngay lúc có nguy hiểm mới, họ tiếp tục ra đi, chất của cải ít ỏi lên tàu thuyền hay lên lạc đà, chạy trốn qua biển hay qua sa mạc.

Biểu tình trên Quảng trường Ngọc trai
Biểu tình trên Quảng trường Ngọc trai

Có hai thành phố nhỏ, ngày nay không quan trọng là Fuweirat và Doha, cả hai đều nằm cạnh bờ biển phía Đông, có nhiều nhóm bộ tộc sinh sống ở đó, trong số đó là thị tộc Al Thani, triều cai trị Katar ngày nay. Người ta cho rằng họ đã di cư từ miền Trung Ả Rập đến Katar vào cuối thế kỷ 17 hay đầu thế kỷ 18 – trong một làn sóng di cư có quy mô lớn của các bộ tộc Ả Rập đi về hướng bờ biển vùng Vịnh.

Nhưng trung tâm kinh tế và chính trị của Katar vào lúc ban đầu không phải là Doha, mà là Zubara, cái nhanh chóng phát triển thành một trung tâm thương mại, nhờ vào các dãy bờ biển có nhiều ngọc trai. Trước khi phát hiện ra dầu mỏ, nghề mò ngọc trai là ngành kinh tế quan trọng nhất ở vùng Vịnh – sự thịnh vượng của Zubara đánh thức dậy nỗi thèm muốn tương ứng ở các láng giềng. Đã xảy ra các cuộc xung đột vũ trang với Ba Tư và Muscat trong Oman ngày nay, và trong diễn tiến của các cuộc chiến này, Bani Utub từ Zubara đã nhờ vào sự giúp đỡ của những người anh em thị tộc ở Kuwait mà chiếm lấy được hòn đảo láng giềng của Katar, Bahrain, năm 1783. Hậu quả là một tình trạng hỗn loạn về chính trị, và cho tới giữa thế kỷ 19, quyền lực chỉ nằm trong tay của các tộc trưởng kình địch với nhau, những người mà một phần có những hình dung hết sức ương bướng về luật lệ và trật tự. Người nổi tiếng nhất trong số các tộc trưởng này là Rahma Ibn Jabir Al Jalahima mà ai trong Katar ngày nay cũng vẫn còn thích kể lại lịch sử của ông ấy, già cũng như trẻ.

Về cướp biển và những người cai trị

Sau khi chiếm được Bahrain, thị tộc Al Khalifa đã cho thị tộc Al Jalahima ra rìa và lừa gạt không cho tham gia nắm quyền lực như đã hứa. Phần lớn người Al Jalahima sau đó đã rời bỏ Bahrain, cả Rahma Ibn Jabir. Nhưng người này muốn trả thù. Ông ấy chuyển sang làm cướp biển, một nghề mà thời đấy cũng được công nhận dọc theo bờ biển vùng Vịnh. Tuy vậy, Rhama không phải là bất cứ một hải tặc nào, ông ấy là tên cướp biển thành công nhiều nhất trong thời của ông ấy, người thông thạo nghề của mình cũng như các luật chơi của chính trị – bằng cách kết bạn với các kẻ thù của Al Khalifa. Ông ấy đặc biệt thích săn lùng các con thuyền buồm bằng gỗ của Al Khalifa, những người mà ông ấy hầu như đã làm phát sản nền thương mại hàng hải của họ. Klaus Störtebeker [hải tặc nổi tiếng người Đức] của Katar này không phải là một con người tinh tế, nếu phán đoán theo vẻ bên ngoài của ông ấy mà nhà du lịch người Anh Buckingham (“Travels in Assyria”) đã mô tả: “Thân hình của ông ấy giống như một gốc cây mảnh dẻ, tay chân của ông ấy hết sức gầy còm và đầy vết đâm và thẹo. Trên thân hình của ông ấy có tổng cộng khoảng hai mươi vết thương, thương tích từ đao kiếm, lao và đạn. Gương mặt của ông ấy dữ tợn và xấu xí và cũng đẹp hơn bởi có nhiều vết thẹo và mất một con mắt.”

Lần kết liễu của ông ấy trong năm 1826 cũng không phải là không có phong cách. Bị bao vây bởi một hạm đội của Al Khalifa, Rahma cho nổ tung mình cùng với đứa con trai tám tuổi.

Trước khi phát hiện ra dầu mỏ, Vùng Vịnh đã đánh thức sự quan tâm thuộc địa của Liên hiệp Anh. Về một mặt, để bảo đảm đường hàng hải giữa Ấn Độ và vùng Lưỡng Hà, nơi bắt đầu tuyến đường bộ đi đến Địa Trung Hải trước khi kênh đào Suez được khai mạc. Mặt khác, người Anh tìm thị trường tiêu thụ mới cho hàng dệt từ quê hương và hàng hóa thuộc địa từ Bombay. Vùng Vịnh trong thế kỷ 19 không phải là hoàn toàn không có nguy hiểm, vùng giữa Katar và eo biển Hormuz được xem là bờ biển của hải tặc. Tình trạng không an toàn chung xuất phát từ tình hình chính trị: thiếu một quyền lực trung tâm mạnh, cái có thể giữ được trật tự. Kình địch giữa các bộ tộc thường dẫn đến những cuộc chiến tranh kéo dài, và một hình thức tiến hành chiến tranh chính là cướp biển mà với nó người ta cố đánh quỵ kẻ địch về mặt kinh tế.  Khi giờ đây thuyền thương mại Anh ngày càng trở thành nạn nhân của cướp biển càng nhiều, Lonbdon phản ứng với nhiều cuộc viễn chinh trừng phạt. Năm 1818, thành trì trốn tránh quan trọng nhất của dân cướp biển bị phá hủy, Ras al-Khaimah, một thành phố ở miền Tây Bắc của Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất ngày nay, thời đấy là trung tâm kinh tế của bờ biển Vùng Vịnh. Tiếp theo sau đấy, Liên hiệp Anh áp đặt được một lần ngưng chiến, lúc đầu là có thời hạn, cái được các bộ tộc tham gia kéo dài mãi mãi. Sự thống trị áp đảo của Anh quốc được củng cố và mở rộng trong nhiều hiệp định với những cái được gọi là Trucial States (các quốc gia ngưng chiến), Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất ngày nay, mà trong đó London đảm nhận ngoại giao và quốc phòng của các tiểu vương quốc này, nhưng trước hết là để cho họ công nhận sự độc quyền thương mại cho toàn bộ phần Ả Rập của Vùng Vịnh. Các tiểu vương quốc bị cấm buôn bán với các quốc gia châu Âu khác. Sự độc quyền này mang lại lợi lộc nhiều nhất là trong lần cấp giấy phép khai thác dầu lần thứ nhất sau Đệ nhất thế chiến.

Triều đại trưởng thành

Chính sách ký kết hiệp ước của Anh quốc, thường đi cùng với áp lực về quân sự, đã cố tình nâng một vài người trưởng bộ tộc lên cấp bậc của những người cầm quyền quốc gia độc lập, điều mà họ nguyên thủy không có hay chỉ có một cách có giới hạn. Như ở Katar và Bahrain. Năm 1868, các bộ tộc Katar tấn công Bahrain láng giềng, có trên 1000 người bị giết chết và hơn 600 chiếc thuyền bị phá hủy trong lúc đó. Lo ngại về lần xâm phạm trắng trợn hòa bình trên biển trong vùng Vịnh này, London gửi một phái đoàn đến Katar để thương lượng một hiệp ước hòa bình với các bộ tộc. Hiệp ước này được xem như là tờ giấy khai sinh cho các quốc gia Bahrain và Katar. Giống như một sự trừng phạt cho lần tấn công, Katar phải công nhận chủ quyền của Bahrain, đồng thời London cũng chấp nhận Katar là lãnh thổ độc lập. Trước đó, đối với người Anh, nó chỉ là một phần phụ của Bahrain. Với hiệp ước đó, tộc trưởng ký kết cho Katar, Mohammed Al Thani, đã được nâng cấp về mặt chính trị – một tộc trưởng không phải là không có ảnh hưởng ở Bisa, ngày nay là một phần của thủ đô Doha, nhưng cho tới lúc ký tên thì cũng chỉ là một trong số nhiều tộc trưởng có hậu thuẫn tương đương với nhau. Ở Bahrain thì sự thống trị của Al Khalifa cuối cùng cũng được ghi nhận. (Họ phụ Al, đọc là Aal, không được nhầm lẫn với mạo từ Ả Rập al–, có nghĩa là “dòng họ”, “triều đại”, “bộ tộc”.) Thế nhưng căng thẳng chính trị giữa Bahrain và Katar vẫn tiếp tục. Năm 1986, trong cuộc tranh cãi vì ba hòn đảo nhỏ, cái đã bắt đầu từ thời đấy, chiến tranh suýt nữa thì đã xảy ra giữa hai quốc gia. Mãi năm 2001 nó mới được Trọng tài Thường trực ở Den Haag hòa giải một cách có lợi cho Katar.

Vì giàu dầu mỏ nên người Anh trả độc lập thật muộn màng cho các quốc gia vùng Vịnh: Kuwait năm 1961, Bahrain, Katar, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Oman năm 1971. Các triều đại gia đình cai trị phải đương đầu với thách thức đáng ganh tỵ, dẫn dắt các quốc gia của họ vào thời Hiện đại một cánh nhanh chóng nhất, ít nhất là theo vẻ ngoài. Thu nhập khổng lồ từ kinh doanh dầu mỏ và sau này là khí đốt không cho phép có sự lựa chọn nào khác – và nhiều lần thì cái giá phải trả là sự nhận dạng và lịch sử của chính họ. Dubai trong các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất năm 1960 có tròn 5000 cư dân, không có đường xá, không có trường học, không có bệnh viện và chỉ có một ngôi nhà duy nhất không bằng đất sét: chi nhánh của Barclays được dựng lên bằng đá. Người dân bản xứ sống chủ yếu nhờ vào buôn bán, kinh tế ốc đảo, trồng chà là và đánh cá. Phương tiện chuyên chở được sử dụng nhiều nhất là lạc đà. Sau đó còn chưa tới hai thế hệ, Dubai là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng nhất của thế giới và có trên một triệu dân cư. Sự phát triển cũng nhanh chóng tương tự như thế trong các quốc gia vùng Vịnh còn lại. Nhưng xây dựng tương lai như thế nào? Câu hỏi này luôn dẫn đến sự đổ vỡ trong các gia đình đang cai trị. Thường hay có đảo chính trong cung đình của những người con trai chống lại cha của họ, lần cuối cùng là 1995 ở Katar, khi tộc trưởng Hamad Al Thani lật đổ cha của ông ấy là Khalifa, nguyên thủ quốc gia từ 1972. Người này đã tìm thấy gương mẫu của mình tại Thụy Sĩ: một đất nước giàu có và đồng thời cũng là hiện thân cho tính trung lập. (Nhìn như thế thì không phải là không có sự mỉa mai, khi Khalifa bị tước quyền lực trong lúc đang ở Genf.) Sau lần Iraq xâm lược Kuwait năm 1990, Hamad tin rằng tính trung lập không thể bảo đảm cho nền độc lập và an ninh cho tiểu quốc Katar, chỉ lớn bằng nửa tiểu bang Hessen [ở Đức], mà ngược lại là một vị thế global player của Katar.

Al–Jazeera. Thế giới Ả Rập tự cải mới

Sau Chiến tranh vùng Vịnh 1990/1991, chính phủ ở Riad kết thúc các hợp đồng cho các căn cứ quân sự Mỹ ở Ả Rập Saudi. Sự hiện diện của Hoa Kỳ đặc biệt là một cái gai trong mắt của những người Wahhab. Vua Hamad nhận ra cơ hội và trước khi lật đổ cha mình đã mời người Mỹ hãy chuyển căn cứ chính của họ về Katar. Washington không thấy có lý do gì để lên án lần đảo chính đó. Ngày nay, khu quân sự Mỹ, một căn cứ không quân khổng lồ, bao gồm gần một phần tư diện tích của Katar dọc theo bờ biển Tây và là một quốc gia đóng kín trong một quốc gia. Bây giờ thì còn ai sẽ tấn công Katar? Đặt câu hỏi về các đường biên giới? Trong quá khứ, Ả Rập Saudi đã hay chiếm hữu những vùng đất biên giới dọc theo các quốc gia vùng Vịnh nhỏ hơn. Trên những tấm bản đồ cũ, Katar còn có biên giới chung với Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất. Ngày nay không còn như thế nữa, trong những năm 1980 Riad đã lặng lẽ chiếm lấy dãy đất dọc theo bờ biển đó.

Để không phải xuất hiện như là tay sai của Washington, vua Hamad phải tạo một đối trọng, lo cân bằng về mặt chính trị. Trong lúc đó ông không chỉ muốn giới hạn ở Katar mà cho cả thế giới Ả Rập. Năm 1996, ông thành lập đài Al–Jazeera (Hòn Đảo), được cho là do vợ chính của ông ấy, hoàng hậu Moussa, khuyên nhủ, với trụ sở trong thủ đô của Katar là Doha. Tên này muốn nói đến bán đảo Ả Rập và đồng thời cũng phản ánh niềm khát khao muốn có nước uống của dân du mục Ả Rập – biểu trưng của Al–Jazeera, cái cũng xuất phát từ một ý tưởng của Vua Hamad như tên của đài, là một dòng hoa văn Ả Rập có dạng như một giọt nước, cái trước mỗi một chương trình tin tức rơi chìm xuống đại dương và rồi lại tái xuất hiện như đã được làm sạch. “Doha” có nghĩa là “cây to có nhiều nhánh”, cái cũng phù hợp với hình ảnh đấy như thế nào đó.

Biểu trưng của đài Al–Jazeera
Biểu trưng của đài Al–Jazeera

Đài tin tức Al–Jazeera, cái loa của cuộc Cách mạng Ả Rập, đồng thời cũng là “nhân tố hiện đại hóa” quan trọng nhất của thế giới Ả Rập. Bắt đầu bằng việc nó đã cải mới về cơ bản giới truyền thông trong vùng. Trước Al–Jazeera chỉ có đài truyền hình do nhà nước chỉ đạo, thường đứng dưới một cơ quan tuyên truyền mang tên của một Bộ Thông tin và sản xuất những chương trình tin tức tẻ ngắt, về mặt kỹ thuật thường ở mức nghiệp dư. Mâu thuẫn xã hội và chính trị về cơ bản không được nói tới. Ví dụ như “Chiến hữu Hafiz al–Assad hôm nay đã tiếp nhận một thông điệp của hoàng thân, Emir của Kuwait, chúc ngài tổng thống mến yêu, tấm gương sáng qua mọi biên giới của Cộng hòa Ả Rập Syria, tiếp tục công tác mang lại nhiều phúc lành và sức khỏe trường an. Cột trụ của kiên cường và đối lập ngay sau đấy đã viết thư cảm ơn và trong đó đã nổ lực thắt chặt thêm nữa tình huynh đệ giữa hai quốc gia.”

Al–Jazeeraa hướng theo các tiêu chuẩn chuyên nghiệp của CNN và BBC, lôi kéo ban biên tập tin tức Ả Rập của BBC về làm việc cho mình và dựa vào truyền hình vệ tinh. Ngay từ đầu, các chương trình tranh luận đã thuộc vào chương trình (“Ý kiến và Phản ý kiến”, “Hướng ngược lại”) mà trong đó ví dụ như người Hồi giáo gặp gỡ những người có tinh thần phi tôn giáo hay tranh luận về những vấn đề tôn giáo và đạo đức. Không một đài truyền hình Ả Rập nào dám trước đó. Đặc biệt những người Hồi giáo bảo thủ bày tỏ sự phẫn nộ, vài chính phủ Ả Rập đã chính thức trao lời than phiền cho giới lãnh đạo Katar. Có lẽ là Vua Hamad đã chuyển giao chúng tiếp tục cho người chủ và cũng là giám đốc của Al–Jazeera, Vua Hamad. Chính phủ Algeria là chính phủ đầu tiên đã kiểm duyệt Al–Jazeera năm 1999. Để ngăn chận không cho phát đi một cuộc thảo luận về tình hình chính trị ở Algeria, họ đã cắt điện trong các thành phố lớn vào thời gian của chương trình này. Chính phủ ở Riad cấm doanh nghiệp Ả Rập Saudi quảng cáo trên Al–Jazeera. Al–Jazeera là đài truyền hình Ả Rập đầu tiên lập một văn phòng thông tín ở Israel và phỏng vấn chính khách Israel – bằng tiếng Do Thái. Cả điều đấy cũng chưa từng bao giờ có trong truyền hình Ả Rập.

Khán giả Ả Rập, những người trước đó phải dựa vào truyền thông Phương Tây để có được thông tin và những tường thuật hậu trường từ đất nước của họ, bây giờ có một truyền thông riêng, cái không bị nghi ngờ là đứng trong chủ nghĩa lấy châu Âu làm trung tâm, cái đã trở nên nổi tiếng từ những tường thuật nhiệt thành và lòng can đảm hướng đến tranh luận.

Ở Phương Tây, Al–Jazeera được biết đến sau ngày 11 tháng 9 năm 2011, vì đài truyền hình này, đã mở một văn phòng ở Kabul trước những vụ khủng bố ở Hoa Kỳ, đã thường xuyên phát đi các thông điệp video của Osama bin Laden. Sau đó, trước hết là các chính khách và nhà xuất bản bảo thủ của Hoa Kỳ đã lên án Al–Jazeera rằng họ đã tạo một ra một diễn đàn cho mạng lưới khủng bố Al–Qaida. Tuy vậy, phần lớn các đài truyền hình trên thế giới đều phát lại một phần từ những video này. Trong tháng 11 năm 2001, máy bay chiến đấu Hoa Kỳ đã phá hủy “nhầm”, như người ta nói, văn phòng của Al–Jazeera ở Kabul. Trong tháng 4 năm 2003, trong Chiến tranh Iraq, văn phòng của đài truyền hình này tại Bagdad đã bị ném bom, thông tín viên Tariq Ayyoub đã chết trong lúc đó. Từ nỗi lo sợ, rằng đài này ủng hộ bài Mỹ và củng cố cho các thế lực quá khích, Tổng thống George W. Bush được cho rằng đã cân nhắc cho ném bom trụ sở chính ở Doha. Rõ ràng là ông ấy không biết rằng cuộc Chiến tranh Iraq được điều phối từ căn cứ Mỹ ở Katar.

Al–Jazeera ám ảnh Washington cho tới đâu, điều đấy được các “Guantánamo Bay files” chứng tỏ, những cái được Wikileaks đưa lên mạng trong tháng 4 năm 2011. Vào đầu 2002, người quay phim Sami al–Hajj làm việc cho Al–Jazeera bị bắt và bị mang đến Guantánamo qua Pakistan. Theo tài liệu của Wikileaks, anh ấy đã bị hành hạ, thuộc trong các phương pháp tra tấn là xâm hại tình dục. Anh ấy cần phải “cung cấp thông tin về các chương trình đào tạo của Al–Jazeera và trang bị kỹ thuật của họ. Thêm vào đó là về công tác báo chí của họ ở Chechnya, trong Kosovo và Afganistan. Kể cả câu hỏi, đài này làm thế nào mà có được những cuốn băng video của Osama bin Laden.”  Theo Wikileaks, người Mỹ tin chắc rằng al–Hajj là một người đưa tin của Al–Qaida. Anh ấy đã chuyển tiền cho một tổ chức từ thiện ở Chechnya, có quan hệ với bin Laden. Sau sáu năm tù, người Sudan này được trả tự do mà không được mang ra tòa. Trong diễn tiến của hàng trăm cuộc hỏi cung, anh ấy, theo luật sư Stafford Smith của anh ấy, chưa từng một lần được hỏi về những điều mà người ta kết tội anh ấy.

“Các cảm xúc sôi sục”

Các nhà báo Phương Tây tường thuật về Chiến tranh Iraq thường là những “nhà báo tích hợp”, đi theo quân đội Hoa Kỳ hay quân đội Anh trong các trận chiến. Ngược lại, các nhà báo của Al–Jazeera đứng vào góc nhìn của người dân thường và chỉ cho thấy các nạn nhân của chiến tranh, những việc phần lớn đều bị loại ra khỏi các tường thuật của Phương Tây. Chính là cái góc nhìn đấy, góc nhìn “từ ở dưới”, đã đánh trúng tâm lý của khán giả Ả Rập và khiến cho đài truyền hình này trở thành người dẫn đầu cho các quan điểm trong thế giới Ả Rập. Đài có thông tín viên ở những nơi mà các nhà báo Phương Tây thường tránh né, trong đó có Gaza và Mogadishu, và ngay cả trong những tỉnh lẻ xa xôi nhất. Khi văn phòng ở Cairo của đài truyền hình này bị bắn phá vào đầu năm 2011, lúc cuộc cách mạng bắt đầu, nó đã làm cho những người biểu tình Ai Cập trở thành phóng viên và phát đi những đoạn video quay bằng điện thoại di động của họ. Al–Jazeera từ lâu đã là một nhà hoạt động chính trị độc lập và ngày nay là cái mà nhân vật Ả Rập sáng danh, Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser, trong những năm 1950 và 1960 đã là: thể chế chính trị có ảnh hưởng mang tính quyết định.

Những vấn đề mà Al–Jazeera đề cập đến, như tham nhũng và kinh tế móc ngoặc, vị trí của người phụ nữ, sự kém phát triển của thế giới Ả Rập, bắt buộc những người đang cầm quyền phải hành động. Điều họ thường làm là đóng cửa các văn phòng của Al–Jazeera hay trục xuất các thông tín viên của họ, điều nhất thời đã xảy ra hầu như trong tất cả các nước Ả Rập. Trong Israel, Al–Jazeera được xem là cái loa của Hamas và được đối xử tương ứng như thế. Trong khi đó, cứ hai người Palestine thì có một người nêu đài này ra như là nguồn thông tin chủ yếu, như nhiều cuộc thăm dò chứng nhận.

Al–Jazeera không phải là nguyên nhân của cuộc Cách mạng Ả Rập, nhưng hẳn là cái đã khuếch đại nó. Tờ New York Times viết trong tháng 1 năm 2011: “Cách tường thuật mang tính công kích của Al–Jazeera đã giữ cho các cảm xúc sôi sục từ thủ đô này sang thủ đô khác. “Cách dùng từ để cho nhận thấy rằng (không chỉ) ở New York người ta vẫn còn có khó khăn trong việc chấp nhận một cảm nhận khác cũng bình đẳng với cảm nhận của chính mình. Al–Jazeera xúc cảm hóa tường thuật của mình cho tới tận ranh giới của đau đớn, không chỉ dưới dạng những đoạn video quảng cáo hàng phút cho chính mình, với nhiều cận cảnh về sự đau khổ của con người và sự tàn phá. Người ta không bắt buộc phải ưa thích sự “khách quan theo ngữ cảnh” này, như một nhà truyền thông học nói. Nó thường phiến diện. Nhưng điều đấy không đúng cho cách tường thuật “của chúng ta” hay sao, khi nhìn ngược lại? Ví dụ như về Israel và người Palestine? Sự khiêu khích nằm chính ở trong đó: Al–Jazeera có một cái nhìn đến thế giới khác với các truyền thông dẫn đầu ở Phương Tây. Cái nhìn này không “tốt hơn”, “đúng hơn” hay “thật hơn”. Nhưng nó bắt buộc người quan sát Phương Tây phải xem xét lại những sự tin tưởng và lòng tin của chính mình. Ông ấy bất thình lình nhìn thấy chính bản thân mình bị hoài nghi.

Để đừng mất cả những khán giả cuối cùng, các truyền thông Ả Rập nhà nước bắt buộc phải mở cửa và chuyên nghiệp hóa. Chất lượng về kỹ thuật và nhiều lần là cả nội dung cũng được cải tiến thấy rõ, các đề tài trước đó không được động chạm đến bây giờ cũng được nói đến ở đây, ngay cả khi dưới dạng đã được làm mềm mỏng đi. Năm 2003, Ả Rập Saudi nhận thấy phải thành lập một đài truyền hình vệ tinh khác để cạnh tranh với Al–Jazeera. Al–Arabiya ([Đài] Ả Rập), phát sóng từ Dubai và bảo thủ hơn thấy rõ và ít dựa vào xúc cảm hơn. Từ 2004, Hoa Kỳ điều hành đài truyền hình vệ tinh tiếng Ả rập Al–Hurra ([Đài] Tự Do) với trụ sở ở Virginia, để, theo George W. Bush, “xua tan đi sự tuyên truyền đầy thù hằn đang chiếm lĩnh bầu không khí trong thế giới Ả Rập”. Ý muốn nói đến chương trình của Al–Jazeera. Tuy vậy, tỷ lệ khán giả của Al–Hurra ở Cận Đông chỉ ở khoảng một phần trăm. Tất cả các đài nước ngoài lớn của châu Âu, cả Deutsche Welle TV, đã phản ứng lại Al–Jazeera, bằng cách về phần mình cũng có cả chương trình nói tiếng Ả Rập.

Từ 2006, Al Jazeera phát bằng tiếng Anh, đài mà đã đột phá được cũng nhờ vào cuộc Cách mạng Ả Rập. Con số khán giả của Al Jazeera tiếng Anh hiện giờ ngang với đài truyền thống BBC. Tiếp theo đó, ở Doha người ta đã có kế hoạch cho một chương trình tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Nhóm mục tiêu không phải là Thổ Nhĩ Kỳ, như người ta phỏng đoán – mà là Iran. Tròn một phần ba người Iran, khoảng 25 triệu người, nói tiếng Azeri, đặc biệt là ở trong miền Tây của Iran. Tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Azeri gần với nhau như tiếng Đức và tiếng Đức Thụy Sĩ. Tại sao tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tại sao không phải là một chương trình trong tiếng Farsi, ngôn ngữ của nước Iran? Nếu như Al Jazeer phát sóng bằng tiếng Farsi, Iran sẽ nhìn điều đấy như là một sự khiêu khích, có thể như là một hành động hiếu chiến và sẽ phản ứng thích hợp. Chính phủ Katar muốn tránh điều đấy. Chính sách truyền thông bao giờ cũng là chính sách quyền lực, đặc biệt là tại một giao điểm mang tính địa chiến lược như vùng Vịnh.

Katar trên con đường trở thành thương hiệu

Đài Al–Jazeera được vua Hamad tài trợ. Ngân sách hàng năm (không có Al Jazeera tiếng Anh) ở tròn 500 triệu dollar. Quốc vương của Katar không can thiệp vào việc điều hành chương trình. Nhưng có ba đề tài bị kiểm duyệt hay kiểm soát. Phê phán gia đình đang cai trị và quan hệ của Katar với hai láng giềng hùng cường của nó là Ả Rập Saudi và Iran. Tuy vậy, Al Jazeera đã tường thuật tỉ mỉ về phong trào phản đối ở Bahrain, kể cả lần quân đội Saudi đàn áp nó, ngược với đài Al–Arabiya do Ả Rập Saudi tài trợ.

Khác với láng giềng Bahrain đang bị đe dọa chìm đắm vào trong các xung đột sắc tộc–tôn giáo của nó, Katar nhỏ bé phát triển trở thành cường quốc ở vùng Vịnh.  Nền tảng của thành công là những thu nhập khổng lồ từ kinh doanh dầu mỏ và đặc biệt là khí đốt. Katar có trữ lượng khí đốt lớn thứ ba trên thế giới và là một trong các quốc gia giàu nhất thế giới. Chỉ riêng khí đốt và dầu đã mang lại cho đất nước này hàng năm số tiền thu nhập trò 50 tỉ dollar. Thêm vào đó là các lợi nhuận từ doanh nghiệp đầu tư Qatar Holding, đầu tư vào trong các lỉnh vực kinh doanh có lời ở khắp nơi trên thế giới, trong đó có Sàn giao dịch chứng khoáng London, các nhà sản xuất ô tô VW và Porsche hay công ty xây dựng Hochtief. Hoạt động trong lĩnh vực thể thao của Katar, đặc biệt là việc tổ chức Giải Vô địch Bóng đá Thế giới 2022, cũng như Al–Jazeera và Qatar Airways, phục vụ trước hết là cho một mục đích: biến đổi toàn bộ đất nước này trở thành một thương hiệu chất lượng trên trường quốc tế, như các doanh nghiệp vừa được nêu ra ở trên đã là. Cả trên lĩnh vực thành tích hàng đầu của đại học nữa, nơi Đại học Katar liên kết với các đại học danh tiếng Harvard và Princeton của Mỹ. Với sự giúp đỡ của họ, Trung tâm Y học lớn nhất vùng Vịnh dự định sẽ hình thành. Katar giữ quan hệ tốt như nhau với Hoa Kỳ và Iran, việc tự bản thân nó đã là một thành tích rồi, người ta nói chuyện với Hamas và với Israel, mời đến dự các hội nghị lớn về chính trị và kinh tế. Doha làm trung gian trong nhiều xung đột, trong số đó là các thương lượng kéo dài 18 tháng để lập chính phủ ở Libanon 2007/2008, ở Jemen và Sudan, giữa các nhóm Palestine Hamas và Fatah. Katar là nước Ả Rập duy nhất đã tham gia về mặt quân sự trong các chiến dịch của khối NATO ở Libya. (Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất cũng có mặt trên giấy tờ.)

Chứng nhận cho chính một nhà cai trị phong kiến, rằng chính sách của ông ấy khôn khéo cũng như bền vững, không phải là điều dễ dàng. Vua Hamad không cần phải lo sợ phê phán từ phía người dân Katar, cuộc Cách mạng Ả Rập không khiến cho ông ấy phải lo ngại. 200.000 người Katar, những người không phải trả thuế, được nhà nước đảm nhận bảo hiểm y tế, nhận một ngôi biệt thự hay một căn hộ hạng sang và một chiếc limousine như là quà cưới, không có lý do để nổi loạn. Không có tù nhân chính trị. Tuy vậy, lực lượng lao động người nước ngoài, tròn một triệu người, không hy vọng có được quà tặng, nhất là những người không có tay nghề chuyên môn từ Ấn Độ, Pakistan hay Bangladesh.

Cuộc nổi dậy ở Quảng trường Ngọc trai

Hòn đảo láng giềng Bahrain, nhỏ hơn thành phố Hamburg, còn xa mới có những điều kiện khung như vậy. Trữ lượng dầu mỏ sẽ kiệt quệ trong vài năm tới đây, cuộc tái cấu trúc nền kinh tế để trở thành một trung tâm tài chính và dịch vụ diễn tiến một cách chậm chạp.  Nếu như tổng sản phẩm nội địa trên đầu người ở Katar hàng năm là 69.000 dollar thì ở Bahrain là vào khoảng 20.000. (Nước Đức, để so sánh: 34.000 dollar.) Cứ đơn giản mua đứt phía đối lập, điều đấy thì Bahrain không có khả năng. Bahrain là quốc gia duy nhất có đa số dân cư là người Shiite, được cầm quyền bởi một vương triều người Sunni, Al Khalifa. Người Shiite chiếm 70% của tròn 500.000 dân cư địa phương, người Sunni chỉ 30%. Thêm vào đó là nửa triệu “lao động khách”.

Và các vấn đề đều bắt đầu từ đó. Cho tới khi cuộc Cách mạng xảy ra, các sắc tộc thiểu số nhỏ cai trị đa số dân cư trong tất cả các quốc gia Ả  Rập. Nhưng ở Bahrian và Syria, giới tinh hoa nắm quyền lực này đồng thời cũng quyết định về sắc tộc–tôn giáo. Việc có theo tín ngưỡng “đúng”, Sunni ở Bahrain, Alawi–Schia ở Syria, hay không quyết định về “trên” hay “dưới” trong xã hội, về sự tiếp cận đến đào tạo, thịnh vượng và có phần. Ở Syria, quân đội bảo đảm từ nhiều thập niên nay sự thống trị của những người Alawite, ở Bahrain, sự giàu có về dầu mỏ lúc đầu đã che đậy sự bất cân bằng giữa người Sunni và người Shiite. Nhưng khi sự biến đổi và hiện đại hóa xã hội tiếp tục diễn ra, nhà nước phong kiến chỉ có thể sống sót được nếu như nó đi cùng với thời gian – xem Katar. Nếu không như thế, nó phải dựa vào sự đàn áp. Nhưng với một kết cục không biết trước được và với tính chính danh như là cái giá phải trả. Trong khi ở Tunesia và Ai Cập có một ý thức quốc gia rõ rệt và qua đó là có một hình ảnh quốc gia, thống trị trong các nhà nước Ả Rập còn lại  là sự nhận dạng về tôn giáo, sắc tộc và/hay bộ tộc. Ở đó thiếu cơ chế chính trị để giải quyết các xung đột một cách hòa bình. Khi các mẫu hình cai trị đã qua thử thách, áp lực và tống tiền, hối lộ và kết nạp, đi đến ranh giới của nó, thì con đường đi đến bạo lực, tan rã nhà nước và nội chiến không còn xa nữa.

Mâu thuẫn sắc tộc–tôn giáo sinh sôi nảy nở trong các xã hội tiền hiện đại hay chỉ được hiện đại hóa một phần, trong các quốc gia đang tan rã hay đã bị chiến tranh phá hủy, trong các đất nước có một nhà nước trung tâm yếu ớt, thường trong một môi trường bao gồm những cấu trúc thị tộc và bộ tộc. Nhưng cũng gặp chúng ở châu Âu, xem Bắc Ireland hay các quốc gia hình thành từ nước Nam Tư ngày trước. Nhìn khách quan thì các xung đột sắc tộc–tôn giáo luôn luôn là các xung đột về chính trị, đấu tranh để phân chia quyền lực và tài nguyên, những cái được tiến hành dọc theo các đường phân chia tôn giáo hay vùng địa lý. Trong sự cảm nhận của Phương Tây thì phần nhiều đều là do sự cuồng tín đạo Hồi gây ra, khi ví dụ như người Sunni và người Shiite giết lẫn nhau trong Iraq hay trong Pakistan. Thật ra thỉ đạo Hồi chỉ là cái van xả cho các căng thẳng đang tồn tại.

Người Shiite và người Sunni

Người Shiite ở Bahrain không phải là con cháu của những người Ba Tư di cư đến. Nguồn gốc của họ nằm trong Iraq – cũng như khoảng 2,5 triệu người Shiite dọc theo bờ biển phía Đông của Ả Rập Saudi, tạo thành tròn mười phần trăm của dân cư Saudi. Những khác biệt về thần học giữa người Sunni và người Shiite tương đối nhỏ, nếu như người ta so sánh chúng với ví dụ như những bất đồng về quan điểm giữa người Công giáo và Tin Lành. Sau cái chết của Mohammed, câu hỏi được đặt ra là ai cần phải thừa kế nhà tiên tri tiếp tục lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo trong thời kỳ đầu. Việc đấy đã dẫn đến những xung đột trầm trọng, kể cả chiến tranh, dẫn đến hậu quả là nhiều lần chia cắt và phân ly. Lần quan trọng nhất dẫn đến sự hình thành người Sunni và người Shiite. Ngày nay, người Sunni chiếm khoảng 90 phần trăm của tròn 1,5 tỉ người Hồi giáo ở khắp nơi trên thế giới. Người Shiite chiếm đa số trong dân cư Iraq, Iran, Libanon cũng như ở Bahrain và Azerbaijan.

Ali, vị khalip được “dẫn dắt đúng đắn” thứ tư, người đồng hành trực tiếp của Mohammed, không thành công trong việc thống nhất cộng đồng Hồi giáo của thời kỳ đầu ở sau lưng mình. Sau cái chết của Ali, tướng Mu’awiya thuộc bộ tộc Quraish ở Mecca đã giành lấy quyền lực và thành lập vương triều Sunni đầu tiên ở Damascus, triều đại Umayyaden (661–750). Những người theo phái Ali (tiếng Ả Rập: shi’at Ali) không đồng ý với việc đó. Qua nhiều thế hệ, tình đoàn kết của những người ngoan đạo với gia đình của nhà tiên tri đã bị tước quyền lực (Ali là anh em họ và con rể của Mohammed) trở thành đảng tôn giáo–chính trị đối lập của người Shiite. Khái niệm Sunni về phần mình thì lại được dẫn xuất ra từ tiếng Ả Rập “Sunna”, bao gồm những hành động cần phải được noi theo của nhà tiên tri. Đặc biệt, cái chết của con trai Ali là Hussein năm 680 trong trận đánh ở Karbala trong Iraq, trận mà “những người theo phái của Ali” đã thua người Umayyaden, đã trở thành vụ nổ lớn cho Học thuyết Shiite.

Ngay trong những năm từ 1994 tới 2000 đã thường hay xảy ra những cuộc xung đột đẫm máu giữa lực lượng an ninh Bahrain và phe đối lập Shiite. Phe đối lập này là một liên minh lỏng lẻo từ phe cánh tả, phe tự do và những người Hồi giáo với mục đích chấm dứt sự phân biệt đối xử vói người Shiite. Người Shiite đã và hiện vẫn hầu như không hề có cơ hội nào cho một việc làm trong công nghiệp dầu mỏ, trong hành chính và ở các lực lượng an ninh. Người Sunni được ưu tiên khi phân chia chỗ học đại học. Thay vì mang người Shiite vào nhà nước và kinh tế, người ta lại loại họ ra. Cảnh sát được tuyển mộ từ Jordan và Pakistan và nhận được hộ chiếu Bahrain một cách tương đối dễ dàng, để đừng phải đào tạo người Shiite sử dụng vũ khí. Khi quốc vương Hamad Al Khalifa giành lấy quyền lực từ cha của mình năm 1999, ông ấy quyết định cải cách. Ông trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị, thiết lập Quốc Hội, cho phép bầu cử và trao cho phụ nữ quyền đi bầu. Về mặt chính thức, Bahrain trở thành một nền quân chủ lập hiến. Trong một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 14 tháng 2 năm 2001, “Tuyên ngôn Hành động Quốc gia” của ông ấy được tuyệt đại đa số xác nhận.

Thật ra thì ít có thay đổi. Quốc hội bao gồm hai viện, Thượng Viện và Hạ Viện với 40 ghế cho mỗi viện. Thượng nghị sĩ không được bầu ra mà được vua Hamad bổ nhiệm. Trong Hạ Viện, Đảng Wifag (Đồng Thuận) Shiite cho tới khi bị cấm hoạt động với 18 trong số 40 ghế là lực lượng mạnh nhất. Quốc vương có quyền phủ quyết tại tất cả các đạo luật và có thể giải tán Quốc Hội vào bất cứ lúc nào. Có thể nhìn thấy rõ tình thế tiến thoái lưỡng nan: trong một nền dân chủ thật sự, các nhà cai trị người Sunni sẽ bị mất quyền lực trước người Shiite.

Xe tăng chống lại nhân dân

Được chắp cánh bởi những cuộc cách mạng ở Tunesia và Ai Cập, người Shiite xuống đường lần đầu tiên vào ngày kỷ niệm lần thứ 10 lần trưng cầu dân ý, ngày 14 tháng 2 năm 2011. Cũng giống như trong quá khứ, các yêu cầu của họ lúc đầu giống như các yêu cầu của một phong trào vì quyền công dân nhiều hơn. Ngoài ra, họ yêu cầu tăng cường quyền lực Quốc Hội đối với gia đình hoàng thân. Những người biểu tình chiếm Quảng trường Ngọc trai ở trung tâm và dựng lều trại ở đó theo gương của Quảng trường Tahrir ở Cairo. Lực lượng an ninh Bahrain nhiều lần cố giải tỏa quảng trường, nhưng không thành công mặc cho tất cả các sự tàn bạo. Con số những người phản đối tăng lên hàng tuần, cuối cùng lên đến hơn 100.000, một phần năm người dân bản xứ. Mang vào tỷ lệ tương quan của nước Đức thì đấy là hơn 15 triệu người biểu tình.

Trong gia đình cai trị đã xảy ra cuộc tranh giành quyền lực. Hoàng tử nối ngôi Salman Bin Hamad Al Khalifa ủng hộ thương lượng với phe đối lập, nhưng không thắng nổi phần còn lại cùa gia đình: cha của ông ấy, quốc vương, người chú của ông ấy, người từ 1971 là thủ tướng đương nhiệm và bị người Shiite căm ghét vô cùng, Khalifa Al Khalifa, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, sếp Hội đồng cố vấn nhà vua, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Ngoại giao. Họ bật đèn xanh cho lực lượng an ninh xả súng bắn vào những người biểu tình. Trong vòng vài ngày, có hơn 20 người chết. Phe đối lập trở nên cực đoan. Ngày 8 thám 3, tám nhóm, trong đó có cả người Sunni, liên kết lại thành “Liên minh của một Cộng hòa Bahrain” dưới sự lãnh đạo của nhà bất đồng chính kiến Hassan Mushaima, người vừa trở về vài ngày trước đó từ London, nơi ống ấy sống lưu vong.

Qua đó, theo cái nhìn của những người cầm quyền, làn vạch đỏ cuối cùng đã bị vượt quá, mặc dù lời yêu cầu xóa bỏ nền quân chủ không phản ánh ý kiến đa số trong người Shiite. Cả các nền quân chủ còn lại trong vùng Vịnh cũng giật mình. Vào ngày 15 tháng 3, theo lời yêu cầu của Al Khalifa, 2000 người thuộc lực lượng an ninh của Saudi và các Tiểu Vương quốc tiến quân vào và đập tan cuộc nổi dậy lớn nhất trong lịch sử của đất nước này. Để xóa đi “những tưởng nhớ xấu”, như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bahrain Khalid Al Khalifa diễn đạt, bức tượng ngọc trai cao 100 mét ở Quảng trường Ngọc trai bị giật sập và đại sứ của Iran bị trục xuất. Theo cái nhìn của chính quyền, Teheran đã dựng lên cuộc nổi dậy này.

Song song với đó, chính phủ tuyên bố “các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia” và qua đó trên thực tế đã áp dụng tình trạng khẩn cấp. Họ trao cho các lực lượng an ninh toàn quyền trên diện rộng để bắt bớ, kiểm duyệt cũng như giới hạn quyền tự do đi lại và hội họp. Hàng trăm người bị quẳng vào tù, hầu như toàn bộ những người dẫn đầu đối lập đều bị bắt ở nhà về ban đêm. Bị giữ ở những nơi bí mật, không có tiếp xúc với thế giới ở bên ngoài. Nhiều người rơi vào nhà giam của Saudi. Nhiều người đối lập bị tra tấm cho tới chết, về mặt chính thức, nguyên nhân cho cái chết là “liệt tim”. Những người khác bị công khai kết án tử hình và bị hành quyết. Bác sĩ và y tá, những người từng chăm sóc cho người biểu tình bị thương trong các bệnh viện, bị đe dọa một cách có hệ thống, bị đánh đập hay bị bắt giam. Qua đó, người ta muốn làm cho họ sợ hãi, vì họ biết con số nạn nhân chính xác. Nhiều nhà thờ Hồi giáo của người Shiite bị phá hủy. Đảng Wifag Shiite, đảng lớn nhất nước, bị cấm hoạt động, tài sản bị tịch thu. Cuộc phản cách mạng của gia đình cai trị đã đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy trong Bahrain, cái đã bắt đầu bằng những cuộc phản đối hòa hoãn, được gợi ý bởi cung cách phản ứng của Ghaddafi ở Libya. Các vấn đề cơ bản, phân biệt đối xử với đa số dân cư Shiite đã không được giải quyết qua đó. Khả năng lại có một cuộc nổi dậy trong tương lai là lớn.

Michael Lüders

Nhà xuất bản C. H. Beck

Phan Ba dịch

Đọc các những chương trước ở trang Những Ngày Thịnh Nộ

Advertisements

2 thoughts on “Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 8

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s