Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 7

LIBYA. GHADDAFI VÀ HẬU QUẢ

Lẽ ra nó đã có thể trở thành một định luật của sự lần lượt. Trong tháng 1 2011, chế độ Ben Ali bị lật đổ ở Tunesia, tiếp theo sau đó trong tháng 2 là Mubarak ở Ai Cập, trong tháng 3 Ghaddafi in Libya. Thế nhưng rất đáng tiếc là sự việc đã khác đi, Libya đã trở thành tín hiệu của cuộc phản cách mạng. Một tín hiệu mà các chế độ khác đã rút ra bài học từ đó, Ở Jemen cũng như ở Bahrain và Syria: ai còn muốn nắm quyền hay muốn kéo dài nó bằng mọi giá phải tiến hành chiến tranh chống lại người dân của mình.

Một tuần sau khi Mubarak sụp đổ, vào ngày 17 tháng 2, trong tỉnh Cyrenaika ở phía Đông, nhân dân Libya bắt đầu đứng lên chống lại người cầm quyền Muammar al-Ghaddafi. Trung tâm vào lúc đầu là thành phố biển Al-Bayda, ngay sau đó đã có những cuộc phản đối đông người tại Tobruk và Bengasi, thành phố lớn nhất trong miền Đông của đất nước. Các cuộc nổi dậy tiếp tục đi về phía Tây, đặc biệt là trong thành phố cảng Misrata và còn ở cả những vùng ngoại ô của thủ đô Tripolis nữa. Khác với ở Tunesia và Ai Cập, các lực lượng an ninh đã ngay lập tức dùng xe tăng và quân tinh nhuệ để chống lại những người biểu tình và cố gắng dùng quân đội để đập tan cuộc nổi dậy. Nhưng thay vì thế, bước leo thang đấy đã khiến cho chiến tranh bùng nổ giữa những người theo và những người chống lại chế độ Ghaddafi. Nếu như vào lúc ban đầu trông có vẻ như những người nổi dậy có thể hành quân nhanh chóng về Tripolis thì chính quyền, sau một giai đoạn bối rối và mất phương hướng ngắn, đã quyết tâm đánh trả lại một cách hết sức tàn bạo. Rõ ràng là Ghaddifi không thể chấp nhận được rằng người dân của ông ấy nổi dậy chống mình. Các bức ảnh, chụp ông ấy với cây dù trong vịnh Caddie và ngay sau đấy là lúc đọc diễn văn cho truyền hình trước hậu cảnh đổ nát được chiếu sáng không tốt mà ông ấy thường hay hét nhiều hơn là kêu gọi “Thawra! Thawra!”, tay nắm chặt lại thành nắm đấm (“Cách mạng! Cách mạng!”), là những hình tượng của một chế độ độc tài đang suy tàn và đồng thời cũng là dấu hiệu của một sự tưởng tượng về quyền tối cao có sự điên khùng đi kèm theo đấy. Nếu như tôi chìm xuống thì cả đất nước của tôi cũng chìm xuống cùng với tôi.

Những con chuột trong sa mạc

Những người nổi dậy bị đẩy lùi về cho tới ngoại ô của Bengasi. Ghaddafi dọa sẽ tận diệt “những con chuột” và buộc người dân thành phố phải chịu trách nhiệm, từng nhà một. Để ngăn chận một cuộc thảm sát sắp sửa xảy ra, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc  đã thông qua Nghị quyết 1973 vào ngày 17 tháng 3. Trong đó, Hội đồng khẳng định tương đồng với Liên đoàn Ả Rập, rằng các cơ quan chính phủ của Liby đã phớt lờ nghị quyết 1970 của ngày 26 tháng 2 về yêu cầu phải bảo vệ người dân thường. Đồng thời, Hội đồng Bảo an cũng lên án việc vi phạm một cách có hệ thống các quyền con người dưới Ghaddafi: bắt giam độc đoán, bắt cóc, tra tấn, hãm hiếp, xử tử. Việc cấm vận vũ khí đã thi hành được bổ sung bởi một vùng cấm bay. Nghị quyết 1973 ủy nhiệm cho các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc sử dụng “tất cả các biện pháp cần thiết” để bảo vệ người dân thường. Ngay trong đêm rạng ngày 18 tháng 3, máy bay của Pháp và Anh đã ném bom các vị trí đóng quân của lực lượng Ghaddafi và ngăn chận không cho họ tiến quân vào Bengasi. Trong thời gian của những cuộc không kích kéo dài nhiều tháng liền, khối NATO, với sự tham gia mang tính tượng trưng của Qatar, đã cố gắng phá hỏng hạ tầng cơ sở quân sự của Ghaddafi nhiều như có thể. Đồng thời, lực lượng nổi dậy luôn tiến về phía Tây, dọc theo đường cạnh bờ biển, bị đẩy lùi lại, lại tiến lên – một trò chơi mèo vờn chuột mà trong đó lực lượng nổi dậy có tinh thần chiến đấu tốt hơn, nhưng quân đội của Ghaddifi có vũ khí tốt hơn. Hơn 12.000 người đã chết qua các trận đánh. Tròn 800.000 người nước ngoài, phần lớn là công nhân di cư người Phi và người Á đã chạy trốn khỏi Libya.

Nước Đức là quốc gia NATO duy nhất trong Hội đồng Bào an đã bỏ phiếu trắng trong lần biểu quyết về Nghị quyết 1973 và qua đó đã gây ra nhiều bối rối cho các đồng minh. Berlin còn chẳng muốn tham gia giám sát việc thi hành cấm vận vũ khí và đã rút các tàu khu trục của mình ra khỏi vùng hoạt động tương ứng trong Địa Trung Hải. Một thảm họa ngoại giao cho chính phủ liên bang [Đức], cái trước hết là xuất phát từ sự do dự và đánh giá sai lầm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ông ấy đã hy vọng rằng Nga và Trung Quốc sẽ dùng quyền phủ quyết của họ trong lúc biểu quyết. Thêm vào đó, ngay trước lần bầu cử quốc hội tiểu bang trong Baden-Württemberg và Rheinland-Pflaz, chính phủ liên bang không muốn ủng hộ tiến hành chiến tranh, là việc không được người đi bầu ưa thích.

Libya là một quốc gia ở sa mạc, lớn hơn nước Đức gấp năm lần. Thế nhưng chỉ có 3% diện tích là có thể sử dụng được cho nông nghiệp, phần lớn dọc theo dãy đất cạnh Địa trung Hải. Phần lớn của sáu triệu người dân sống ở đó. Bên cạnh Algeria, Libya có những mỏ dầu và khí đốt quan trọng nhất ở Bắc Phi. Tương tự như ở Jemen, Libya là một quốc gia chịu rất nhiều ảnh hưởng của bộ tộc. Đặc tính sa mạc của đất nước giải thích tại sao cách sống của người Bedouin vẫn còn thống trị cho tới tận thế kỷ 20. Từ ngàn xưa, bộ tộc đã đặt dấu ấn lên cấu trúc xã hội và chính trị trong nước này. Ngày nay có tròn 140 bộ tộc và đại gia đình có nhiều ảnh hưởng mà trong số đó chỉ có một phần nhỏ là có đại diện trong bộ máy quyền lực dưới thời Ghaddafi. Vì vậy mà các điều kiện khung của xã hội hoàn toàn khác với các điều kiện ở Tunesia và Ai Cập. Một đạo quân tiên phong như thế hệ Facebook, hay cả một xã hội dân sự, chỉ tồn tại ở dạng sơ đẳng trong Libya. Sự đàn áp người dân có một quy mô hoàn toàn khác.

Quá khứ tiếp tục sống

Tên “Libya” bắt nguồn từ từ cổ Ai Cập “Lebu”, lúc ban đầu dùng để chỉ các bộ tộc người Berber ở phía Tây của Ai Cập. Vào khoảng 2000 trước Công Nguyên, họ bắt đầu sinh sống trong vùng đấy. 1000 năm sau đấy, người Phoenicia bắt đầu thành lập dọc theo vùng bờ biển phía Tây của Libya ngày nay những nơi định cư đầu tiên, trong số đó là Sabratha, Leptis Magna và Oia, tiền thân của Tripolis. Vì thế mà có tên gọi “Tripolitania” “Đất nước ba thành phố”. Năm 814, Carthage đi tiếp theo sau đó và đã phát triển trở thành quyền lực thương mại dẫn đầu ở phía Tây của Đại Trung Hải và trở thành địch thủ của Rome. Gần như cùng lúc, người Hy Lạp đến từ đảo Creata và vào khoảng 630 đã thành lập nhiều thành phố, trong số đó là Cyrene ở bờ biển phía Đông. Nhưng vùng thống trị của họ, được họ gọi là Cyrenaika, nhanh chóng rơi vào ảnh hưởng của Ai Cập. Năm 146 Rome tiêu diệt Carthage. Vùng đất Tripolitania màu mỡ cũng như Cyrenaika đều bị Rome thống trị từ đó. Với sự chia cắt Đế quốc La Mã năm 395, Libya cũng bị chia cắt. Nửa phía Tây vẫn thuộc Rome, phía Đông được giao cho Byzanz. Mặc cho sự Hồi giáo hóa kế tiếp theo sau đó và thêm hơn 1500 năm lịch sử, sự tương phản giữa Tripolitania và Cyrenaika vẫn còn tồn tại. Nói một cách đơn giản, phía Tây hướng đến Maghreb nhiều hơn, phía Đông hướng về Ai Cập. Nước Ý, từ năm 1911 đã thực hiện chính sách thực dân định cư ở Libya, tương tự như cách làm của người Pháp ở Algeria, công khai tuyên bố đất nước này là thuộc địa của mình vào năm 1934 và phát triển Tripolis trở thành một trung tâm kinh tế. Người anh hùng tự do Libya Omar Mukhar đã tổ chức cuộc kháng chiến trong Cyrenaika, phần đất cổ truyền hơn, bắt rễ sâu trong Hồi giáo, cho tới khi ông ấy bị người Ý bắt được và mang đi xử tử năm 1931. 20 năm sau đấy, ba tỉnh tự trị từ thế kỷ 15 Tripolitania, Cyrenaica và Fezzan, một vùng sa mạc thưa dân cư ở phía Nam, liên kết lại thành Libya giờ đây độc lập.

Đấy không phải là ngẫu nhiên, khi cuộc nổi dậy chống Ghaddafi bắt đầu ở Al-Bayda và mặt trận cả một thời gian dài chạy dọc theo vùng ranh giới giữa Cyrenaica với Tripolitania. Lời giải thích nằm trong lịch sử.

Năm 1837, nhà truyền đạo Mohammed as-Sanussi (1787 – 1859) từ Algeria thành lập Hội Huynh Đệ Sanussi, một phong trào đánh thức đức tin. Sáu năm sau đó, trụ sở đầu tiên của dòng tu được thành lập trong vùng Cyrenaica, ở Al-Bayda, thời đấy là một tỉnh hẻo lánh và lạc hậu trong Đế quốc Ottoman cách xa mọi quyền lực trung tâm. Qua tính siêng năng và tổ chức chặt chẽ của Hội Huynh Đệ, thêm 80 trụ sở nữa được thành lập trong thời gian sau đó chỉ riêng trong vùng Cyrenaica, sau đấy cũng ở Ai Cập và cho tới tận Timbuktu. Các mối quan hệ tốt đẹp với những bộ tộc ở địa phương và ảnh hưởng tăng lên của Hội Huynh Đệ đã dấy lên sự bất an trong Constantinobel xa xôi. Năm 1895, quân đội Ottoman xua đuổi những người Sanussi ra khỏi Al-Bayda. Dưới sự lãnh đạo của Mohammed as-Sanussi (1859 – 1902), con trai của người thành lập dòng tu, họ kiến lập trong ốc đảo Al-Jaghbub, tròn 500 kilomét về phía Đông Nam của Al-Bayda, một nhà nước thần quyền, cái trên đỉnh cao về quyền lực của nó vào khoảng chuyển đổi thế kỷ đã thống trị toàn bộ Đông Sahara. Người Ý không thành công trong việc làm giảm ảnh hưởng của những người Sanussi. Sau khi Libya độc lập, năm 1951 người Anh đưa Mohammed Idris as-Sanussi (1890 – 1983), người cháu của nhà thành lập dòng tu, lên làm vua. Cho tới khi bị lật đổ vào ngày 1 tháng 9 năm 1969 bởi một cuộc đảo chính của Ghaddafi, Al-Bayda là thủ đô của Libya. Lá cờ của những người nổi dậy ngày nay là lá cờ của chế độ quân chủ. Vì hoài cổ thì ít, mà trước hết là để cách biệt với bộ máy quốc gia Libya, cái đã trở thành một với bộ tộc của Ghaddafi.

Không có lý do để mà ca ngợi quá khứ. Vào thời quân chủ, tỷ lệ mù chữ chiếm 94%, tỷ lệ tử vong của trẻ em ở khoảng 40%, trên toàn nước không có đến một bác sĩ người bản xứ. Libya là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Nguồn thu nhập chính là bán sắt vụn, có nhiều từ thời của những trận chiến xe tăng trong Đệ nhị Thế chiến, đặc biệt là trong vùng quanh Tobruk. Nền tảng quyền lực của những người Sanussi chủ yếu dựa trên quan hệ tốt đẹp của họ với các bộ tộc trong vùng Cyrenaica và dựa trên uy quyền mà họ tự trao cho mình như là những người lãnh tụ tôn giáo. Đồng thời, họ cũng nhìn mình như là những người đứng giữa các lãnh tụ bộ tộc và giới có địa vị ở thành phố. Lần bắt đầu khai thác dầu mỏ vào đầu những năm 1960 đã mở đầu cho sự suy tàn của nền quân chủ. Khác với những người đồng nhiệm trong các quốc gia ở vùng Vịnh, vua Idris không hề có một viễn cảnh nào để phát triển Libya, Thay vì vậy, tham nhũng và kinh tế móc ngoặc lại tăng cường và hưởng lợi từ đó trước hết là những nhóm người quen biết với nhau và các mạng lưới ở phía Đông của đất nước. Sự giàu có nhờ dầu mỏ hầu như không đến được với người dân chút nào.

Ảnh hưởng của các bộ tộc

Khi đại tá Muammar al-Ghaddafi đảo chính để nắm quyền năm 1969, ông ấy chỉ mới vừa có 27 tuổi. Người dân hoan hô ông như một đấng cứu thế. Người tôn sùng mãnh liệt Gamal Abdel Nasser hứa hẹn công bằng xã hội và lúc ban đầu cố gắng vượt qua cấu trúc bộ tộc bằng ý tưởng của Chủ nghĩa Dân tộc Ả Rập đã bị phủ bụi. Từ lý do này mà ông ấy cũng dời thủ đô về Tripolis. Thế nhưng mặc cho tất cả những lời hùng biện cách mạng, sự thống trị hơn bốn mươi năm của ông ấy không có tác động gì nhiều hơn là tước bỏ hầu hết quyền lực của các bộ tộc trong vùng Cyrenaica và thay vào đó nâng cao giá trị của các bộ tộc trong vùng Tripolitania. Ghaddafi dựa quyền lực của mình đặc biệt là trên ba bộ tộc:

Ghaddafa, một bộ tộc nhỏ, di cư trong thế kỷ 19 từ Cyrenaica vào vùng đất quanh thành phố cạnh biển Sirte ở phía Đông của Tripolis.

Warfalla, với tròn một triệu thành viên là bộ tộc lớn nhất trong Libya. Vùng sinh sống chủ yếu của họ nằm ở phía Nam của Tripolis.

Magarha, định cư trong vùng quan Sebha, trung tâm kinh tế và chính trị của Fazzan. Xuất phát từ hàng ngũ của họ là những người khủng bố đã đặt thuốc nổ trên một chiếc máy bay của Pan Am. Lần nổ đấy đã khiến cho chiếc máy bay rơi trên thị trấn Lockerbie ở Scottland.

Ghaddafi quốc hữu hóa công nghiệp dầu và đi theo đường lối chống đế quốc, chống thuộc địa. Đồng thời, ông cố gắng thống nhất thế giới Ả Rập dưới sự lãnh đạo của mình, nhưng không thành công. Năm 1977, ông thay thế Cộng hòa Ả Rập Libya với “Jamahiriya”, một từ Ả Rập mới, có nghĩa như “Cộng hòa Nhân dân”. Tên mới đầy đủ của đất nước là “Đại Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Ả Rập Libya của Nhân dân”. Bây giờ, quyền lực về mặt chính thức là ở nhân dân, được đại diện trong “Hội nghị Nhân dân Công cộng” mà tổng thư ký của nó vào lúc đầu là Ghaddafi. Năm 1979, ông từ bỏ tất cả các chức vụ chính trị và phát triển “Học thuyết toàn thể thứ ba” của ông ấy, một cái được cho là sự lựa chọn khác của Chủ nghĩa Cộng sản và Chủ nghĩa Tư bản, được ghi lại trong quyển “Sách Xanh”, một sự pha trộn thô thiển từ Chủ nghĩa Marx thông tục, cố gắng suy nghĩ và tuyển tập thơ. Trong đó, ông khẳng định ví dụ như dân chủ là một sự lừa bịp nhân dân, đảng phái lôi kéo những người bỏ phiếu của họ, doanh nhân là những kẻ ăn bám. “Hội nghị Nhân dạn” và “Ủy ban Cách mạng” thành hình khắp nơi trong nước, được cho là cơ quan phát ngôn cho ý muốn của người dân, nhưng trong thực tế lại là các công cụ đàn áp và theo dõi tương tự như An ninh Quốc gia [của Đông Đức]. Trong “Jamahiriya”, hầu như tất cả các thể chế nhà nước đều bị bãi bỏ, vì ngừoi ta cho rằng nhân dân tự cầm quyền và quản lý. Khác với tuyên truyền, “Jamahiriya” không gì nhiều hơn là một công cụ thống trị của một bộ tộc duy nhất, của bộ tộc Ghaddafa với Ghaddafi và thị tộc của ông ấy đứng ở đầu. Điều đấy giải thích tại sao cuộc nổi dậy chống chế độ của ông ấy dẫn đến chiến tranh ngay lập tức, khác với ở Tunesia và ở Ai Cập. Ở đấy có các thể chế và cấu trúc nhà nước, những cái sống sót qua được nhà độc tài và đi theo cùng với một khởi đầu mới. Không như thế ở Libya. Hệ thống Ghaddafi cũng như “Jamahiriya” không thể được cải tổ hay cải mới. Libya là Ghaddafi. Không có đảng phái, không có quốc hội, không có tư pháp độc lập, không có hiến pháp, không có tam quyền phân lập, không có tự do ngôn luận, không có công đoàn, không có bầu cử bí mật, còn chẳng có trên bình diện địa phương nữa – hoàn toàn không có gì như thế. Chỉ có sự tung hô, hạ mình vô điều kiện dưới “ý muốn của nhân dân” mà hiện thân là Ghaddafi. Phá hủy hệ thống đấy là điều kiện tiên quyết để xây dựng mới dân chủ ở Libya. Ý tưởng, rằng những người đối lập có thể/cần phải ngồi vào một bàn tròn với Ghaddafi để đi tới một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột chỉ là thơ ngây. Từ tầm nhìn của một chiến binh bộ tộc như Ghaddafi thì chỉ có bạn hay thù. Và kẻ thù thì cần phải bị tiêu diệt.

Sự tập trung quyền lực vào trong tay của Ghaddafi và những người được ông ấy ưa thích gặp phải khước từ và chống đối. Trong những năm 1980 và 1990 thường hay có cố gắng đảo chính. Do vậy, Ghaddafi thành lập dân quân riêng, trung thành với cá nhân của ông ấy và được trang bị tốt hơn là quân đội. Nhiệm vụ duy nhất của họ là đập tan các cuộc nổi dậy và phong trào đối lập. Nó tuyển mộ hầu như chỉ từ bộ tộc của Ghaddafi, bộ tộc Ghaddafa, được chỉ huy bởi các con trai của ông ấy. Lòng trung thành hoặc là được mua chuộc hay bị bắt buộc. Năm 1993, khi sỹ quan từ bộ tộc Warfalla đảo chính thất bại, ông ấy bắt buộc bộ tộc Warfalla phải tự tay hành quyết những người đảo chính. Nếu không thì toàn bộ người của Warfalla sẽ mất việc làm của họ trong các cơ quan hành chính nhà nước, chủ lao động lớn nhất.

Cùng với lần khởi xướng “Jamahiriya”, Ghaddafi cấm toàn bộ các hình thức kinh tế tư nhân, cái ngay từ năm 1973 đã bị hạn chế mạnh. Sau đấy, hơn 100.000 người Libya đã rời bỏ đất nước, hầu như toàn bộ giới trung lưu không có nhiều ảnh hưởng. Cùng với doanh nhân, giới trí thức cũng bỏ đi. Libya trở thành sa mạc về mặt tri thức. Mặc dù không thiếu tiền như dưới thời Ghaddafi, chỉ 5% tổng sản phẩm nội địa là được đầu tư vào trong đào tạo, trong trường học và đại học. Ghaddafi, tự mình là một người đi lên từ hoàn cảnh nghèo khổ, rõ ràng là nhìn xã hội dân sự cũng như những người có học thức và văn hóa như là một mối đe dọa. Đồng thời, ông đóng cửa đất nước. Nhà báo và khoa học gia hầu như không thể có được thị thực – nếu như họ không được mời tham dự các “Hội nghị chuyên đề quốc tế” về quyển sách của những quyển sách, “Học thuyết toàn thể thứ ba”, hay không muốn có ý tường thuật lại những buổi lễ kỷ niệm hàng năm vào ngày 1 tháng 9, tưởng nhớ lần tiếm quyền của Ghaddafi. Bên cạnh Iraq dưới thời Saddam Husein, Libya dưới quyền Ghaddafi là chế độ độc tài Ả Rập đáng sợ nhất, trước hết cũng vì sự liên kết ma quỷ từ ngu ngốc và tàn bạo.

Lần tự tử của nhà du hành vũ trụ

Ghaddafi, bị thúc đẩy bởi hoang tưởng cuồng vĩ, rất thích phô trương mình trong những bộ quân phục tưởng tượng giống như trong nhà hát và trước khi cuộc nổu dậy bắt đầu đã nghiêm chỉnh tự xem mình thuộc cùng bậc với các chính trị gia tầm cỡ thế giới như Mikhail Gorbachev hay Nelson Mandela. Năm 1966, ông cũng thử làm nhà văn. Trong quyển tiểu thuyết của mình với tựa đề “Ngôi làng, ngôi làng, Trái Đất, Trái Đất và lần tự sát của nhà du hành vũ trụ”, ông viết về sự cô đơn của một nguyên thủ quốc gia không được nêu tên. Sau khi đi từ làng quê ra thành phố, người này đánh mất cội rễ của mình, tính thực tế và truyền thống, thay vào đấy lại có khuynh hướng sợ hãi và trầm cảm. Nhà du hành vũ trụ, sứ giả từ một thiên hà xa xôi, người bất thình lình xuất hiện trong cốt truyện của quyển tiểu thuyết, tức giận về những khó khăn mà người nguyên thủ quốc gia phải đối đầu, và, tuyệt vọng, kinh hãi về tình huống của người đấy, đã tự tử. Quyển sách được bày bán chưa đến hai tuần trong các tiệm sách của Libya khi nó bị thu hồi lại theo yêu cầu của tác giả và bị  cấm đọc.

Sự cấm đoán kinh tế tư nhân đã khiến cho người Sanussi gặp nhiều khó khăn, doanh nhân và thương gia giàu kinh nghiệm, những người qua đó bị tước quyền lực thêm một lần nữa. Đó là mọt trong những lý do, tại sao miền Đông của Libya trong thời gian sau đó là thành trì của những phong trào Hồi giáo quá khích, những phong trào mà sau 1955 thường dùng bạo lực vũ khí để chống lại Ghaddafi và đã thật sự đe dọa chế độ của ông ấy. Trong số đó cũng có những người hoạt động mà trong những năm 1980 đã chiến đấu chống người Xô viết ở Agghanistan, một phần ở bên cạnh Osama bin Laden. Mãi đến sau 11 tháng 9 năm 2001, Ghaddafi cuối cùng mới đập tan được sự phản kháng Hồi giáo chống lại sự thống trị của mình.

Sau khi không thể thống nhất thế giới Ả Rập, Ghaddafi quay sang châu Phi và tuyên truyền cho một “Liên minh châu Phi”, thích nhất dưới sự lãnh đạo của ông ấy. Ông có đủ tiền để mua được sự ủng hộ đặc biệt là của các quốc gia vùng Sahel. Song song với đó, năm 1982 ông thiết lập ở Tripolis một “Trung tâm chống Đế quốc”, cái chẳng bao lâu sau nổi tiếng là một trung tâm điều khiển của khủng bố quốc tế. Người của Libya huấn luyện quân nổi dậy ở Đông Nam Á, châu Phi và châu mỹ La tinh. Nhưng cả IRA của Ireland cũng nhận vũ khí và tiền bạc. Sau lần khủng bố trong quán nhảy La Belle ở Berlin năm 1986, nơi chủ yếu là lính Mỹ lui tới, (hai người chết, 230 người bị thương), Tổng thống Mỹ Ronald Reagan buộc tội Ghaddafi đã ra lệnh. Như sau này biết được, vụ khủng bố đấy đã được Đại sứ quán Libya ở Đông Đức lập kế hoạch. Để trả đũa, Reagan cho bỏ bom khu nhà ở Al-Asisiya của Ghaddafi trong Tripolis mà qua đó người con gái nuôi của nhà độc tài đã tử thương. Đống đổ nát tồn tại như một đài kỷ niệm và nhắc nhở đến “sự hung hãn của đế quốc”. Chính ở đây, Ghaddafi đã có lần xuất hiện “Cách mạng! Cách mạng!” đáng ghi nhớ của ông ấy trong truyền hình nhà nước, ngay vào lúc cuộc nổi dậy bắt đầu. Sau Lockerbie (hơn 250 người chết) và sau lần bắn hạ một chiếc máy bay hàng không dân sự của Pháp trên Tshad (170 người chết), Liên Hiệp Quốc ban hành lệnh cấm vận kinh tế Libya năm 1992, cái mãi đến năm 2003 mới bị bãi bỏ. Đặc biệt là xuất khẩu dầu thì lại không bị cấm.

Không phải các cuộc cấm vận mà nhiều hơn là giá dầu giảm mạnh vào giữa những năm 1980 đã đẩy chính quyền này đến chỗ khó khăn về kinh tế. Thiếu tiền để tiếp tục mua một cách không có giới hạn hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ từ nước ngoài. Như một phản ứng, người Libya lại được phép hoạt động kinh doanh tư nhân. Chỉ trong vòng một thời gian rất ngắn, khu vực tư nhân bùng nổ, cái tuy vậy đã phát triển trở thành một nền kinh tế của những kẻ cướp. Lái buôn Libya mang lậu hàng hóa ra nước ngoài với quy mô lớn, những thứ đã được mua trước đó với sự trợ giá của nhà nước, qua đó mà có được ngoại tệ và sau đấy là chia chác chúng với các nhân viên nhà nươc tham nhũng và với những người theo Ghaddafi. Toàn bộ Tây Phi được cung cấp lương thực thực phẩm từ Libya bằng cách này, trong đó là gạo, mì ống, bột mì, dầu đậu nành, sữa bột, nước ép từ cà chua hay bánh quy. Nhưng cả các sản phẩm bền lâu phần lớn từ Trung Quốc cũng qua con đường Libya đến châu Phi đen, ví dụ như vải và quần áo, phụ tùng thay thế cho ô tô, đồ chơi điện tử, vật liệu xây dựng, nệm giường, chăn mền, thảm, bàn ghế. Xe chạy mọi địa hình và xe tải bị đánh cắp ở Tunesia, Ai Cập hay Algeria được đẩy sang Niger, Mali, Tshad và Mauritania. Cuối cùng, một sự buôn bán phát đạt với thuốc lý Mỹ cũng hình thành, cái đến với Libya qua Benin và Niger. Hưởng lợi từ nền kinh tế kẻ cướp này, với hàng chục triệu mỗi năm, tính bằng dollar, ngoài các lái buôn trước hết là các “Ủy ban Cách mạng”, bên cạnh dân quân là cột sống của quyền lực Ghaddafi. Vì thế mà ông ấy cứ để cho nó tiếp diễn và để cho quỹ nhà nước phải trả giá. Đối với đa số người dân Libya, những người làm việc trong khu hành chính nhà nước với tiền lương bị đóng băng và lạm phát cao, thì sự phát triển này là một thảm họa.

Giới trẻ đi theo con đường riêng của họ

60% người Libya trẻ hơn 20 tuổi. Mặc dù về mặt tài chính họ có được tốt hơn những người đồng lứa tuổi trong Ai Cập hay Tunesia, tương lai nghề nghiệp của họ dưới thời Ghaddafi lúc nào cũng mờ mịt. Đường lối thất thường của ông ấy, mà trước hết là sợ thích những nhóm khủng bố ở khắp nơi trên thế giới của ông ấy, đã ngăn chận sự phát triển xã hội và cô lập đất nước, trong khi thu nhập bạc tỷ từ việc bán dầu và khí đốt được đầu tư vào trong các đại dự án vô nghĩa như khai thác nước ngầm hóa thạc trong sa mạc hay biến mất trong các hậu phòng của quyền lực. Libya giàu tiền năng bắt đầu thiếu tiền vì sự trung thành được mua theo kiểu đại trà. Thế hệ trẻ tìm một lối thoát. Nếu như họ không sa vào trong nền kinh tế của những kẻ cướp giật đấy thì họ tự khám phá lấy quyền lực của thị trường cho chính họ. Giới teen và tween mua hàng hóa ở Malta, Tunesia và Ai Cập, có cấm vận hay không cấm vận cũng thế, rồi bán lại chúng trong quê hương của mình. Không ít người trở nên khá giả và giúp đỡ tài chính cho gia đình, thị tộc và bộ tộc của họ. Quán cà phê, nhà hàng và cả quán rượu nữa mọc lên như nấm trong thủ đô bị người ta ngán ngại vì sự tẻ nhạt của nó. Ghaddafi có đủ khôn ngoan để không ngăn chận sự phát triển này, mặc dù chúng thật sự là chế diễu những điều khôn ngoan trong quyển “Sách Xanh”. “Jamahiriya” của ông ấy đã biến thoái thành một chính phủ bất lương và tham nhũng, các lực lượng an ninh lo liệu cho một sự im lặng trên trường chính trị giống như ở nghĩa trang và giới trẻ đi con đường riêng của mình. Cuộc cấm vận lại hỗ trợ thêm cho nền kinh tế trong bóng tối đó, nhưng không làm cho chế độ suy yếu đi. Trên khắp nước, giới trẻ tôn sùng một cảm giác sống mới mà trong đó “lãnh tụ cách mạng” không còn đóng vai trò nào cả. Tuy vậy, giới trẻ này, khác với trong các nước láng giềng, thuộc rất ít vào thế hệ Facebook và thuộc nhiều hơn là vào thế hệ “Bizness” – có thể so sánh tốt hơn với các doanh nhân trẻ tuổi trong Đông Âu sau 1989.

Không còn ai quan tâm thật sự đến viễn tưởng của một “xã hội công bằng” của Ghaddafi, đến những người theo ông ấy cũng không. Các “Ủy ban Thanh trừng”, được đặc biệt thành lập để tuyên án tử hình và cho hành quyết những kẻ gangster quá táo tợn, không thay đổi được gì trong việc “Jamahiriya” mất đi diện mạo và tính chính danh một cách nhanh chóng trong quần chúng. Chế độ cảm thấy bất an cho tới đâu, nó cố gắng một cách tuyệt vọng cho tới đâu để giữ được một phần còn lại của tính đáng tin cậy, không mẩu chuyện nào có thể minh họa cho điều đấy một cách dễ hiểu như vụ máu dự trữ nhiễm HIV. Năm 1997 và 1998, trong thời cấm vận, hơn 400 trẻ em trong một bệnh viện nhi đồng ở Bengasi đã nhiễm HIV, 43 em đã chết. Vụ này làm chấn động giới công chúng Libyia và đã trở thành một dịp may để tuyên truyền cho chế độ. Ghaddafi đổ lỗi cho mật vụ Mỹ và Israel CIA và Mossad đã bày mưu. Năm nữ y tá Bulgaria và một bác sỹ Palestina bị buộc tội đã cố tình truyền máu nhiễm HIV sang cho các em. Sau những vụ xử án kéo dài nhiều năm, họ bị tuyên án tử hình năm 2007, nhưng được trả tự do và bị trục xuất sau khi các món tiền “bồi thường” hàng triệu bạc được chi trả.

Cơ quan nhà nước luôn bác bỏ lời cáo buộc thiếu vệ sinh và làm việc luộm thuộm. Những người bị cáo buộc đã phải đứng ra chịu đòn cho một hệ thống chính trị thất bại, cái “liêm khiết” bảo vệ “danh dự của người Libya” chống lại một trật tự thế giới quá ư là bất công bằng.

Ghaddafi nhượng bộ

Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng ngày 11 tháng 9 năm 2001 và “cuộc chiến chống khủng bố”, đặc biệt là lần tiến quân  vào Iraq, đã kéo dài sự sống sót của “Jamahiriya”. Ghaddafi sợ phải rơi vào trong tầm ngắm của Hoa Kỳ như Osama bin Laden hay Saddam Hussein và đã thay đổi đường lối 180 độ. Ông đề nghị bình thường hóa quan hệ với chính phủ Hoa Kỳ và trả số tiền bồi thường hàng trăm triệu đồng cho thân nhân những người là nạn nhân của những cuộc khủng bố từ Libya. Các hợp đồng dầu mỏ và khí đốt được thương lượng mới với những điều kiện ưu tiên mà trước hết là Tây Âu đã hưởng lợi từ đấy, và từ đó Tây Âu đã nhận đến 80% trong tổng lượng cung cấp của Libya. Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil không có cơ hội nào. Chuyên gia khủng bố Ghaddafi cung cấp cho người Mỹ thông tin chi tiết về Al-Qaida và những nhóm bạo lực khác. Đồng thời, ông ấy cho dừng tất cả các chương trình phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt. Doanh nghiệp Hoa Kỳ nhận được các đơn đặt hàng lớn trong công cuộc xây dựng cơ sở hạ tầng điêu tàn. Đổi lại, Hoa Kỳ ủng hộ bãi bỏ cấm vận và cung cấp vũ khí cho Ghaddafi mà ông ấy đã dùng chúng để triệt hạ phe đối lập Hồi giáo trong Cyrenaika. Về phía người châu Âu thì ông ấy lại phục vụ như một đối tác đáng tin cậy để giữ không cho người tỵ nạn từ châu Phi đen đến được bờ biển của châu Âu. Một trong những tuyến đường chính của họ đi tqua Niger và Libya. Để cho đơn giản, họ thường bị gửi ngược trở vảo sa mạc, nơi hàng nghìn người trong số đó đã chết vì khát.

Cấm vận vừa được bải bỏ năm 2003 thì chính trị gia châu Âu đã gõ cửa Tripolis. Đặc biệt là người Pháp và người Ý đã cầu cạnh bằng mọi giá. Paris còn cố bán cho Ghaddafi cả một nhà máy điện nguyên tử. Người này thưởng thức sự chú ý mà người ta dành cho ông ấy, và tự cho rằng, nhưng đã nói, mình là một chính khách lớn của thế giới này. Ông ấy bao giờ cũng đi đến châu Âu với một cái lều, cái được dựng một cách màu mè trước những phong cảnh làm nền giống như trong sách ảnh. Thông điệp gửi về quê hương là: văn hóa bộ tộc của chúng ta ngang hàng với Versailles và Đấu trường La Mã.

Nền kinh tế kẻ cướp không thay đổi gì nhiều, tuy vậy, những người hoạt động bây giờ mặc comlê kẻ sọc và tự tin gửi lợi nhuận của mình cũng như gửi số tiền bán dầu bạc tỉ lấy trộm từ ngân quỹ nhà nước vào ngân hàng ở nước ngoài. Đồng thời, ở mặt ngoài, chính phủ cố gắng có được một hình ảnh mới, cởi mở với thế giới, “tự do”. Biểu tượng được cá nhân hóa cho cái được cho là sự biến đổi này trước hết là Saif al-Islam, người con trai thứ hai của Ghaddafi, người mà chẳng bao lâu sau đó đã được xem như là người sẽ kế nghiệp cha của ông ấy và tạo ấn tượng rằng ông ấy ủng hộ một cái gì đó giống như đổi mới. Thật ra thì ông ấy không khác gì một gangster chính trị, người thích phim điện ảnh và ca kịch và qua đó khiến cho những người bạn và người giúp đỡ ở Phương Tây có một ấn tượng sai lầm, rằng ông ấy cuối cùng cũng là một đối tác kinh doanh đáng tin cậy. Nhưng ở trong Libya thì không có gì biến đổi theo chiều hướng tốt hơn. “Jamahiriya” tiếp tục bảo trợ cho những người hưởng lợi của nó từ bộ tộc Ghaddafa và đồng minh của họ. Chỉ Ghaddafi, gia đình của ông ấy và một giới nhỏ những người mang quyền quyết định mới có quyền sử dụng tiền bạc tỉ từ bán dầu mỏ. Không một thời điểm nào mà sự “mở cửa” của chế độ, lần thay đổi đường lối năm 2001, lại đi cùng với một sự dân chủ hóa, dù có khiêm tốn đến đâu đi chăng nữa.

Cho tới ngày 17 tháng 2 năm 2011.

Đạo đức trong chính trị?

Người ta không cần phải là một người bạn của các hoạt động quân sự Phương Tây để cho rằng chiến dịch của NATO ở Libya là đúng đắn và thích hợp. Thông thường, can thiệp là không thích hợp thể ép một sự dân chủ hóa từ ngoài vào. Điều đấy đã không thành công cả ở Iraq lẫn ở Afghanistan. Nhưng cũng có những trường hợp mà một sự can thiệp dường như là bắt buộc. Nhất là khi có nguy cơ sẽ có một biển máu. Lần diệt chủng ở Ruanda năm 1994 và vụ thảm sát 8000 người Bosnia ở Srebrenica một năm sau đó đã khiến cho Liên Hiệp Quốc tái đánh giá các can thiệp bằng quân sự. Nguyên tắc bất di bất dịch, không can thiệp vào công việc nội bộ của một nhà nước có chủ quyền, đã được xét lại năm 2005 theo sáng kiến của Canada. Từ đấy, “trách nhiệm bảo vệ” được xem như là một tiêu chuẩn mới của luật quốc tế. Theo đó, các nhà nước có chủ quyền không còn được phép tùy tiện chống lại người dân của mình. Chính phủ có trách nhiệm bảo vệ nhân dân của mỉnh trước bạo lực thái quá. Nếu như họ không muốn hay không có khả năng, cộng đồng các quốc gia sẽ đảm nhận lấy trách nhiệm bảo vệ. Nó có thể đưa ra các biện pháp để chấm dứt bạo lực ngay cả khi trái với ý muốn đã được tuyên bố của chính phủ đấy.

Sự đổi mới về cơ bản này đã gặp phải nhiều chống đối từ phía Nga và Trung Quốc, nhưng cũng cả ở các nước đang phát triển và các nước sắp trở thành nước công nghiệp. Họ lo sợ một đặc quyền can thiệp của các nước Phương Tây. Và cũng vì họ nhiều lúc có khuynh hướng muốn dùng biện pháp đàn áp trong chính đất nước của mình nên họ không muốn chịu rủi ro của những “chuyến đi trừng phạt”. Do vậy mà Nga và Trung Quốc đã buộc trách nhiệm bảo vệ phải được giới hạn ở sự diệt chủng, tội ác chiến tranh, trục xuất sắ tộc và các trọng phạm chống lại loài người. Thêm vào đó, một sự can thiệp từ bên ngoài bị ràng buộc với một yêu cầu từ Hội đồng Bào an, cái có thể dẽ dàng được ngăn chận qua một phiếu phủ quyết.

Trong trường hợp Libya, phe nổi dậy đã khẩn nài yêu cầu sự can thiệp từ bên ngoài, vì lực lượng của Ghaddafi đã đứng ở ngoại ô của Bengasi. Hội Nghị Hồi giáo cũng như Liên đoàn Ả Rập, cả hai tuy là cọp giấy, nhưng vẫn là những người đại diện cho quyền lợi của các chính phủ trong thế giới Hồi giáo hay thế giới Ả Rập, đã yêu cầu Hội đồng bảo an của Liên Hiệp Quốc phải chấm dứt cảnh đổ máu ở Libya – việc mà tự họ không có khả năng hay không sẵn sàng.

Trước bối cảnh đó, Hội đồng Bảo an đã ra các Nghị quyết 1970 và 1973, và đã mở đường cho một sự can thiệp về mặt quân sự, cái mà Paris và London đã bắt đầu vào ngày 19 tháng 3 năm 2011 bằng những cuộc không kích quân đội Ghaddafi và đã được đặt dưới quyền của NATO hai ngày sau đó. Chưa từng bao giờ có một sự can thiệp tương tự như thế, cái a) được Liên Hiệp Quốc nhất trí ủy nhiệm (với phiếu trắng của Đức, Trung Quốc, Nga, Brazil và Ấn Độ), dựa trên trách nhiệm bảo vệ, và b) được tiến hành kịp thời để ngăn chận một vụ thảm sát đã được tuyên bố trước. Khác với trong trường hợp của Iraq hay Afghanistan, có vẻ như không thẻ nào gán cho người Mỹ và người Âu những động cơ Đế quốc Chủ nghĩa. Như đã nói, 80% xuất khẩu dầu của Libya là cho châu Âu. Dưới quan điểm đó, lẽ ra NATO đã phải đứng về phía của chế độ Ghaddafi để chông lại những người nổi dậy. Nhưng mặc dù vậy, cao thượng không phải là động cơ chính ở Paris, London, Rom hay Washington. Mà là nỗi lo, rằng về trung hạn Ghaddafi có thể làm cho Bắc Phi mất ổn định và trở thành một mối nguy hiểm cho an ninh ở miền Nam của châu Âu. Thủ tướng Anh David Cameron nhìn thấy cơ hội để đánh bóng hình ảnh của đất nước ông ấy trong vùng, hình ảnh mà vốn đã bị vấy bẩn bởi cuộc Chiến tranh Iraq. Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy muốn làm cho người ta quên đi chính sách đáng chê trách của chính phủ ông ấy đối với các quốc gia cùng Maghreb trước và vào lúc cuộc cách mạng bắt đầu – hoàn toàn chưa nói tới cái tôi to lớn của ông ấy và các con số tồi tệ trong những lần thăm dò. Ở trong khối NATO, Washington thì lại giao trách nhiệm chiến dịch về cho Liên hiệp Anh và Pháp. Trong bất cứ trường hợp nào, tổng thống Obama cũng không muốn bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh mới, sau những thảm họa ở Afghanistan và Iraq.

Với phiếu trắng của mình trong lúc biểu quyết Nghị quyết 1973, nước Đức đã khiến cho bạn bè và đồng minh phải ngạc nhiên và đã vô cớ mà tự cô lập mình. Ngoài ra, với cách biểu quyết của mình, chính phủ Đức để cho người ta nhận thấy rằng họ vẫn còn chưa hiểu được sự biến đổi mang tính kỷ nguyên trong thế giới Ả Rập.  Nữ thủ tướng liên bang [Đức] cũng như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tuy lên án bạo lực ở Libya và yêu cầu Ghaddafi từ chức. Nhưng đồng thời, tàu khu trục Đức trước bờ biển Libya được rút đi. Khi lời phê phán về việc làm mất thể diện NATO này trở nên quá to, Berlin đồng ý cho sử dụng máy bay AWACS Đức trên bầu trời Afganistan để bù vào đó, một việc đã bị từ chối lâu nay: nếu có ý muốn làm chính trị thì sẽ khác đi.

Động thái của chính phủ liên bang [Đức] cũng là không thể chấp nhận được khi câu hỏi về tương lai của Libya được đặt ra. Ai là những người nổi dậy này? Người ta có thể tin họ được không? Câu hỏi ngược lại: Ngay cả khi những người nổi dậy chỉ là những kẻ giết ngưởi hàng loạt và hiếp dâm – thì rồi Ghaddafi có quyền giết họ hay không? Có thể có an ninh và ổn định cho châu Âu và dân chủ cho người dân Libya với Ghaddafi hay không? Sau tất cả những gì mà chúng ta biết được về “Jamahiriya”, câu trả lời chỉ có thể là không. Ghaddafi không chỉ là một thái quá của Libya. Ông ấy cũng là thụ tạo của chúng ta. Sự nhân nhượng của Phương Tây đối với con người bệnh tâm thần này đã kéo dài sự thống trị của ông ấy một cách không cần thiết sau năm 2001. Nếu như “cộng đồng những giá trị” của Phương Tây không muốn chỉ là những lời hùng biện nói về chính mình, thì chúng ta phải bước vào quan hệ căng thẳng giữa đạo đức và quyền lực. Phải đối xử như thế nào với các “nhà nước lưu manh” như Libya, Belarus, Zimbabwe? Với đường lối của Moscow và của Bắc Kinh đối với các dân tộc thiểu số, tôn giáo thiểu số và những thiểu số khác? Và đó có phải chỉ là đạo đức già hay không, khi NATO can thiệp vào Libya, nhưng không can thiệp vào Bahrain, Syria hay Jemen?

Câu trả lời thật thà cũng như không làm hài lòng là: tùy theo từng trường hợp một. Zimbabwe quá không quan trọng về mặt địa chính trị để mà có thể bị bỏng tay ở đó. Trung Quốc và Nga thì lại quá mạnh. Jemen quá phức tạp. Đứng sau Bahrain là Ả Rãp Saudi, nhà sản xuất dầu mỏ lớn nhất thế giới. Belarus là sân sau của Moscow. Syria – một thùng thuốc súng ở trong vùng. Trong trường hợp hoài nghi, các lợi ích kinh tế sẽ quyết định. Chính trị ít liên quan đến đạo đức. Nhưng nó thỉnh thoảng trải qua những khoảng khắc tươi sáng, thuộc trong đó cũng là “trách nhiệm bảo vệ”.

Can thiệp quân sự từ những lý do nhân đạo chắc chắn sẽ vẫn là trường hợp ngoại lệ. Cuối cùng thì những người bị đàn áp phải dựa vào chính mình. Họ phải tạo nên một sự năng động, cái giải phóng cho họ. Những người nổi dậy ở Libya gặp may, nếu như người ta muốn nói như thế. Các sự việc đã ghép lại với nhau một cách thuận lợi cho họ. Không nhiều hơn nhưng cũng không ít hơn.

Nhưng mục đích chiến tranh của NATO là gì? Ở mặt công khai là để bảo vệ người dân thường. Trên thực tế thật ra là để lật đổ Ghaddafi, mặc cho tất cả những lời phủ nhận. Giống như là người ta muốn bơi mà không phải chìm hẳn vào trong nước. Cũng vì thế mà cuộc chiến đã kéo dài – việc sử dụng lục quân dường như là quá nguy hiểm và bị những người nổi dậy dứt khoát từ chối, để không phải đứng đó như là tay sai của Phương Tây. Thay vì vậy, lực lượng đối lập nhận được vũ khí trong quy mô có giới hạn, thật ra là vi phạm cấm vận vũ khí, chiến binh của họ một phần được huấn luyện về quân sự. Trong niềm hy vọng không đổi, rằng các cuộc không kích vào quân đội của Ghaddafi sẽ làm suy yếu lực lượng này và các bộ tộc của vùng Tripolitania cuối cùng sẽ quay lưng lại với ông ấy. Đồng thời, Nga và Trung Quốc vẫn còn kín đáo cung cấp vũ khí và lính đánh thuê cho Ghaddafi nhiều tháng trời.

Tiếp theo như thế nào?

Sau khi chế độ Ghaddafi chấm dứt, nhà nước Libya phải tự phát minh mới chính mình. Có mối nguy hiểm, là trung tâm của quyền lực sẽ lại dịch chuyển đi, trở lại vùng Cyrenaica, việc mà Tripolitania phải trả giá. Người Ghaddafa, Magarha và những phần của Warfalla hẳn sẽ mất ảnh hưởng. Nếu như họ bị đẩy ra rìa trong lúc phân chia lại quyền lực và tài nguyên thì sẽ có nguy hiểm của một cuộc chiến tranh du kích. Nhưng các bộ tộc không phải là những nhóm đồng nhất, những cuộc thanh toán giữa những người theo và những người chống lại Ghaddafi cả trong từng bộ tộc cũng không phải là là được loại trừ. Đặc biệt là cho người Warfalla. Và cuối cùng thì cấu trúc bộ tộc trong các thành phố lớn Tripolis, Bengasi và Misrata, nơi tròn một phần ba dân số sinh sống, sẽ mất nhiều ảnh hưởng. Trước hết là giới trẻ đã từ lâu không còn cảm nhận rắng họ được những người dẫn đầu bộ tộc đại diện cho mình nữa. Trong số các nhóm đối lập chỉ có Huynh đệ Hồi giáo là có một mức độ tổ chức nhất định, đặc biệt là trong các thành phố của vùng Cyrenaica. Họ đại diện cho một Hồi giáo chính trị ôn hòa và đấu tranh cho công bằng xã hội. Ngay từ đầu tháng hai năm 2011, họ đã kêu gọi phản đối Ghaddafi và đóng một vai trò quan trọng khi cuộc nổi dậy bùng nổ. Các Huynh đệ Hồi giáo là đảng phái xuyên bộ tộc lớn nhất và cũng có đại diện trong “Hội đồng Lâm thời Quốc gia”, chính phủ kế tiếp chế độ Ghaddafi.

Nhưng cuộc nổi dậy được tiến hành chủ yếu bởi những người hoạt động không tham gia đảng phái chính trị. Thanh niên trẻ thất nghiệp hay thiếu việc làm phóng hỏa đốt các đồn cảnh sát và trụ sở nhà nước trong các thành phố của miền Đông Bắc và trên núi Nafusa ở Tây bắc, dọc theo biên giới với Tunesia và qua đó đã tạo ra một sự động lực đã nhanh chóng trở nên không còn có thể kiểm soát được nữa. Thế hệ Facebook, như đã nhắc đến, chỉ đóng một vai trò phụ. Thay vào đó, trước hết là trong Bengasi, luật sư, bác sĩ, giáo sư đại học, phụ nữ đã tham gia cuộc nổi dậy và có lẽ  sẽ dẫn đầu hay tổ chức các đảng phái chính trị mới và những nhóm xã hội dân sự mới. Quan chức cao cấp đã đào ngũ của Ghaddafi cũng có mặt trong Hội đồng Lâm thời, khiến cho những người chống Ghaddafi rất bực tức.

Thách thức lớn nhất đầu tiên là ở việc xây dựng các thể chế trong một lbya mới, từ hiến pháp cho tới luật bầu cử, từ quốc hội cho tới làm cân bằng lợi ích của các bộ tộc một cách hòa bình. Ở bên kia của yêu cầu lật đổ Ghaddafi, yêu cầu tự do và dân chủ cũng như chấm dứt tham nhũng, những người nổi dậy thiếu một viễn cảnh chính trị và một nhân vật lãnh đạo. trong trường hợp xấu nhất, lần bắt đầu mới chấm dứt ở sự chia lại tài nguyên: trong những cuộc tranh giành chia chác các thu nhập từ khu vực dầu mỏ. Ngay khi một chính phủ mới nắm được nó, họ sẽ lập liên minh với những bộ tộc quan trọng nhất và qua đó cố củng cố quyền lực của họ. Tuy vậy, việc đơn giản là cứ tiếp tục hệ thống bảo trợ,  theo chiếu ngược lại, sẽ bị những nhóm tự do và Hồi giáo trong các thành phố lớn và những nhà cách mạng trẻ loại trừ rộng khắp. Trong trường hợp này, cải cách mang tính cơ bản hay cả một sự phân tán quyền lực về cho các vùng đất là ít có khả năng xảy ra và sẽ kéo theo những bạo động kế tiếp.

Có nhiều khả năng là thất bại và bùng nổ bạo lực sẽ đi kèm theo với sự dân chủ hóa Libya. Tan rã nhà nước là việc không thể loại trừ về mặt cơ bản. Tương tự như Rumani sau khi lật đổ Ceausescu hay Albania sau khi Hoxha chấm dứt, đầu tiên là Libya đứng trước một cái lỗ đen, một tương lai ít nhiều không chắc chắn. Không có người châu Âu thiện chí đứng trong hậu trường, những người muốn đi kèm theo lần bắt đầu mới về chính trị và kinh tế.

Thật ra tại sao lại không? Libya không thiếu tiền, nhưng hẳn là thiếu chuyên gia trong vấn đề xây dựng quốc gia. Chính phủ liên bang [Đức], sau thái độ thất thường đối với những người nổi dậy, tốt hơn là nên đặt một trọng tâm của đường lối chính trị tại Địa Trung Hảo của mình ở tại đất nước này. Giúp đào tạo thẩm phán, cảnh sát, nhân viên nhà nước. trợ giúp nhà báo độc lập, thúc đẩy xây dựng giới truyền thông tự do. Giúp đỡ đào tạo, nhưu xây dựng trường dạy nghề hay hỗ trợ những dự án của các trường đại học. Chỉ kể ra như một vài ví dụ.

Châu Âu không có lợi khi Libya tan rã. Lý luận, trong trường hợp này thì lẽ ra không tấn công Ghaddafi thì tốt hơn, cũng mang tính thuyết phục tương tự như giả định, rằng châu Âu ngày nay lẽ ra là tốt hơn với Ceausescu hay Hoxha. Điều ngược lại mới là đúng: lẽ ra tốt hơn là nên tách xa khỏi Ghaddafi sớm hơn nhiều.

Những người nổ dậy chiếm được Tripolis vào ngày 21 tháng 8 một cách hoàn toàn bất ngờ. Tuy các trận chiến vẫn còn tiếp diễn thêm một thời gian nữa, nhưng vào cái ngày đấy, sự thống trị kéo dài gần 42 năm của Ghaddafi đã chấm dứt, người bây giờ tạm thời đã lẩn trốn. Thành công của những người nổi dậy nhờ chủ yếu là vào sự giúp đỡ của NATO, nhưng cũng nhờ tài thương lượng của “Hội đồng Lâm thời Quốc gia”. Hội đồng này đã thương lượng hàng tuần với những bộ tộc ở miền Tây Libya, những bộ tộc đã ủng hộ Ghaddafi vào lúc ban đầu. Ngay chính bộ tộc của ông ấy, Ghaddafa, phần nhiều cũng cho rằng tốt hơn là nên đổi chiến tuyến. Đổi lại, chắc chắn là những người đã từng trung thành với nhà độc tài trước đây cũng đã nhận được bảo đảm là sẽ không bị loại ra ngoài vòng của quyền lực và loại ra ngoài lần phân chia lại tài nguyên. Không có sự nhân nhượng của các bộ tộc thì cuộc chiến chắc có thể sẽ kéo dài thêm nhiều tháng nữa. Cả cuộc chiến cuối cùng vì Tripolis, được nhiều người lo ngịa, cũng đã không xảy ra – viên tổng tư lệnh chịu trách nhiệm bảo vệ thủ đô thuộc bộ tộc Ghaddafa đã yêu cầu các đơn vị của mình bỏ súng xuống.

Michael Lüders

Nhà xuất bản C. H. Beck

Phan Ba dịch

Đọc các những chương trước ở trang Những Ngày Thịnh Nộ

Advertisements

One thought on “Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 7

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s