Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 5

NỖI LO SỢ TRƯỚC SỰ BIẾN ĐỔI

Năm 1987, Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan trong bài diễn văn trước Cổng Brandenburg ở Berlin đã yêu cầu nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết dưới sự reo mừng của những người nghe đã được chọn lọc trước: “Ông Gorbachev, ông hãy giật sập bức tường này đi!” Khi rồi nó thật sự sụp đổ hai năm sau đấy, sự vui mừng là vô biên như người ta đã biết. Bài diễn văn to lớn âm vang ở khắp mọi nơi, nói về chiến thắng của sự tự do trước sự phi tự do. Các Chính phủ Phương Tây đã không hề sợ tốn công sức lẫn tiền bạc để giúp đỡ những nền dân chủ đang thành hình ở Đông Âu (và để cắt giảm ảnh hưởng của nước Nga kình địch, như mở rộng khối NATO về phía Đông). Chiến thắng của Chủ nghĩa Tư bản trước Chủ nghĩa Cộng sản cũng có nghĩa là “Sự chấm dứt của lịch sử”, nhà chính trị học người Mỹ Francis Fukuyama khẳng định trong quyển sách bán chạy cùng tên của ông ấy và trao cho Hoa Kỳ một “vai trò đặc biệt” trong truyền bá tư tưởng tự do và kinh tế thị trường. Nhà tư tưởng của phái Tân Bảo thủ thuộc trong số những người đồng thành lập “Dự án cho thế kỷ Mỹ mới” (Project for the New American Century) năm 1997, cái dự án đề nghị dân chủ hóa thế giới Ả Rập bằng cách can thiệp quân sự như ở Iraq năm 2003.

Chiếc chìa khóa để hiểu được sự cảm nhận hoàn toàn khác nhau về cuộc Cách Mạng ở Đông Âu năm 1989 và trong thế giới Ả Rập năm 2011 của giới chính khách Phương Tây và nhiều phần của giới công cộng ở đây [Đức/châu Âu] có lẽ là nằm ở đây. Sự chấm dứt của Chủ nghĩa Cộng sản và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết không chỉ là một chiến thắng có được một cách hòa bình trước kẻ thù truyền kiếp nhiều thập niên liền. Nó đồng thời cũng  mang lại cảm giác rằng người ta đang đứng ở bên mặt đúng của lịch sử. Trước nay lúc nào cũng làm, sống và nghĩ một cách đúng đắn. Từ bây giờ, bất cứ một chính sách quyền lực nào dù có thiển cận đến đâu đi chăng nữa cũng được mô tả như là sự thể hiện của một đạo đức cao cả hơn, của những giá trị Phương Tây, của tự do, dân chủ và nhân quyền. Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi đạo Hồi cuối cùng tiến lên trở thành hình ảnh thù địch mới, còn có thêm một điều chắc chắn nữa: phải bảo vệ những thành quả gắn liền với sự thế tục hóa và khai sáng của một xã hội đa nguyên chống lại những thủ lĩnh Hồi giáo, khủng bố, khăn trùm đầu và “giết người vì danh dự”.

Tốt và xấu, đúng và sai

Cuộc Cách mạng Ả Rập đã được định dạng một cách sai lầm. Nó không phù hợp với cái “đĩa cứng tâm lý” đang thống trị, không tương ứng với những cảm nhận và những điều được tin chắc của đa số. Làm sao mà có thể được, khi hàng triệu những người theo đạo Hồi, những người mà theo luận điểm của Thilo Sarrazin là bị hỏng hệ gene, bước xuống đường và chỉ trong vòng vài tuần là đã lật đổ được những chế độ độc tài có từ nhiều thập niên nay mà, ở Tunesia và Ai Cập, không phải bắn đến một phát súng, không cần đến những chiến binh thần thánh, không cần đến những chiềc mũ của sự căm thù? Làm sao có thể được, khi những người phụ nữ trùm kín người chỉ còn nhìn thấy mắt lại đứng trước máy camera yêu cầu có dân chủ và tự do bằng tiếng Anh thông thạo? Làm sao có thể được, khi đám đông người đần độn đấy, say mê một tôn giáo thời Trung cổ, muốn thống trị thế giới, lại có khả năng đoàn kết, viết nên lịch sử?

Cái mà nếu người ta cứ tiếp tục dòng suy nghĩ cũng đưa ra một câu hỏi đau đớn trong nước Đức, rằng tại sao chính những người đấy lại thành công trong một việc mà người Đức không hề có thể đạt được dù ở mức sơ khai trong những năm 1930. Thế giới dường như đã đơn giản và rõ ràng như thế đấy, ví dụ như khi Hans-Magnus Enzensberger dẫn giải ra trong một bài tiểu luận dài trong tờ ZEIT sau cuộc tấn công vào Kuwait của Iraq năm 1990, rằng tại sao Saddam Hussein lại là “một Hitlert thứ hai” và một sự can thiệp quân sự chính là điều nên làm ở thời điểm này. Điều đấy đã mang lại cho ông ấy nhiều sự tán thành và công nhận, vì ông ấy đã học từ lịch sử Đức mới đây và đã rút ra những kết luận đúng đắn. Tốt và xấu, đúng và sai có vị trí cố định của nó, không khác gì ở những người phê phán Hồi giáo sau đấy.

Phản ứng lại những vụ khủng bố của 11 tháng 9 năm 2001, Hoa Kỳ và đồng minh của mình đã và đang tiến hành hai cuộc chiến tranh, ở Afghanistan và Iraq. Với mục đích chiến thắng Al-Qaida và Taliban, và lật đổ đối tác kinh doanh lâu năm Saddam Hussein mà sự thống trị bạo lực của ông ấy đã không hề khiến cho ai cảm thấy phiền hà, cho tới khi ông ấy thách thức các lợi ích về dầu mỏ của Phương Tây ở Kuwait. Các lãnh tụ Tân Bảo thủ của thế giới, trước hết là ở Hoa Kỳ, quyết định lập một nhà nước dân chủ kiểu mẫu từ Iraq mà sức tỏa sách của nó sẽ dần dần giáo dục toàn bộ vùng đấy đi đến tự do. Và giống như có bàn tay ảo thuật, xung đột Cận Đông cũng nhân tiện đấy mà sẽ được giải quyết, vì kẻ hỗ trợ khủng bố chủ yếu, Saddam Hussein, không còn nữa.

Hàng trăm nghìn người đã chết, trước hết là trong Iraq. Ở Kabul cũng như ở Bagdad, những chính phủ bù nhìn được hợp pháp hóa một cách giả dân chủ nắm quyền, những chính phủ hoàn toàn chỉ thực hiện chính sách bảo trợ [clientelism] và bỏ đầy túi cho mình. Chi phí cho cả hai cuộc chiến tranh đã vượt ranh giới nghìn tỉ từ lâu rồi. Không chiến thắng được Al-Quadi, nói chi đến Taliban, Iraq đứng ở rìa của sự phân rã nhà nước và tình trạng vô chính phủ, Hamas và Hezbollah mạnh như chưa từng bao giờ, trong Iraq và cả trong Afghanistan, Teheran có ảnh hưởng nhiều như chưa từng bao giờ. Ngay đến Francis Fukuyama cũng phải thừa nhận trong tờ New York Times năm 2006 rằng cuộc Chiến tranh Iraq là một sai lầm đáng sợ. Ông ấy còn đặt Chủ nghĩa Tân Bảo thủ, tư tưởng thống trị tất cả trong kỷ nguyên của George W. Bush, ngang với Chủ nghĩa Bolshevik dưới thời Lenin.

Đấy là những từ ngữ rõ ràng của sự tự phê phán và cũng chính vì vậy mà là một trường hợp ngoại lệ lớn lao. Nước Cộng hòa Liên bang [Đức] dưới chính phủ Schröder/Fischer đã khôn ngoan đứng ngoài cuộc chiến tranh trong Iraq. Nhưng không đứng ngoài ở Afghanistan, cái đè nặng lên chính sách chính trị của Đức cho tới ngày hôm nay. Đa số người dân không tán thành cuộc chiến tranh này. Mặc dù vậy, nó vẫn được tiếp tục, chắc chắn là còn nhiều năm nữa. Điều đấy có liên quan đến trách nhiệm trong liên minh và với việc có những người lính đã chết ở đấy và đã đầu tư những khoản tiền khổng lồ. Một chính phủ mà thừa nhận rằng đã hy sinh tính mạng con người và tài nguyên một cách vô nghĩa sẽ không được bầu lại. Nhiều hơn thế, nó đặt ra câu hỏi về hệ thống. Bị đe dọa ở đây chính là sự đồng thuận về cơ bản của chính trị Phương Tây, tức là đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền, hay nói cách đi: hướng đến các giá trị. Tất nhiên là ai cũng biết, nếu như người đấy muốn biết, rằng chính trị theo đuổi trước hết là lợi ích. Tuy vậy, sự thống trị, cả một sự thống trị được hợp pháp hóa một cách dân chủ, cũng cần đến một vẻ ngoài tốt đẹp, cần đến những từ ngữ to lớn, những lý tưởng đáng kính trọng. Với sự ích kỷ được phô trương ra ngoài một cách công khai thì không thể điều hành nhà nước về lâu dài được.

Ngừng lại!

Cuộc Cách mạng Ả Rập là một sự khiêu khích. Nó làm lung lay những điều được cho là chắc chắn. Một khi người Ả Rập thành công trong việc tự mình lật đổ các nhà độc tài – thì tại sao lại có những cuộc chiến tranh trong Afghanistan và nhất là trong Iraq? Tại sao phải dùng bạo lực thô bạo để phá cánh cửa khi những người dân tại chỗ có chiếc chìa khóa? Những người biện giải cố chấp của Chiến tranh Iraq lý luận ngược hẳn lại. Họ khẳng định rằng chính là nhờ chính sách của Goerge W. Bush mà nói chung là các tiền đề cho những cuộc cách mạng bây giờ mới được tạo ra. Hay là họ có tìm cách chứng minh rằng cuộc Cách mạng Ả Rập hoàn toàn không phải là một cuộc cách mạng. Đúng hơn, đấy là một cuộc nổi dậy của những kẻ nghèo hèn đang kéo đến những cái nồi thịt. Tất cả những điều đấy đều chẳng có liên quan gì đến dân chủ hay dân chủ hóa cả. Hưởng lợi tất nhiên là những người Hồi giáo, cái thể hiện một mối đe dọa thật sự, trước hết là cho Israel. (Nshư John B. Judis, Stop Calling It Egypt’s Revolution, trong The New Republic, 16/02/2011.)

Khi người Ai Cập nhiều ngày và nhiều tuần liền cùng nhau tìm đến những cuộc biểu tình lớn nhất đã từng có trong lịch sử của thế giới Ả Rập và trong lịch sử ít ra thì cũng là 7000 năm của đất nước này, và là một cách hòa bình, thì Tổng thư ký NATO Anders Fogh Rasmussen, người là Thủ tướng Đan Mạch thuộc vào trong số những người tán thành cuộc Chiến tranh Iraq, tuyên bố trên Hội nghị An ninh München rằng những vụ lật đổ ở Tunesia và Ai Cập sẽ đặt ra cho khối NATO thêm những nhiệm vụ mới nữa. Một phán xét đáng ngạc nhiên: Hàng triệu người Ả Rập đòi hỏi tự do và một một cuộc sống tốt đẹp hơn và vị Tổng thư ký của khối NATO nhìn đấy trước hết là một vấn đề an ninh? Thách thức thật sự cho khối NATO là một thách thức hoàn toàn khác. Chúng ta cứ hãy cho rằng các quốc gia Ả Rập thật sự phát triển theo hướng dân chủ và nhà nước pháp quyền, việc khiến cho các khuynh hướng quá khích trong Hồi giáo mất đi ảnh hưởng. Thế là NATO nhất định sẽ bị mất hình ảnh của một địch thủ. Cuộc đấu tranh chống Al-Quada, chống Taliban, những kẻ khủng bố Hồi giáo chung, khống chế Iran – đó chính là cơ cở hoạt động của chính sách phòng thủ Phương Tây từ 9/11, không còn bàn cãi trong người Âu và người Mỹ. Đó không phải là “câu hỏi về giá trị”, mà là một câu hỏi thực tế về chính trị-kinh tế. Đấy đặc biệt là một “phức hợp quân sự-công nghiệp” – một khái niệm mà Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, cũng chính là một cựu tướng lĩnh, đã phổ biến trong bài diễn văn từ giã của ông ấy vào ngày 17 tháng 1 năm 1961. Cuộc tái kết cấu quân đội [Đức] từ một quân đội của những người thi hành nghĩ vụ quân sự thành một quân đội chuyên nghiệp chủ yếu là nhờ vào nhận thức, rằng nước Đức không còn cần một quân đội để bảo vệ biên giới đất nước của mình nữa. Nhưng hẳn là cần một đội quân mạnh, có chuyên môn hóa cao, “bảo vệ tự do của chúng ta tại Hindi Kush”, như nguyên Bộ trưởng Bộ quốc phòng Peter Struck tin là như thế. Điều đấy có hậu quả cho những hệ thống vũ khí đang được sử dụng, cho sự trang bị khí tài của quân đội, cho những đơn đặt hàng tương ứng được đưa sang cho công nghiệp vũ khí. Điều đấy mang lại lợi ích, ở 28 quốc gia thuộc NATO.

Nhưng không chỉ các nhu cầu của ngành công nghiệp vũ khí đóng một vai trò trong mối liên quan này. Cũng như thế là sự thèm khát vô lường về dầu mỏ và khoáng sản của các quốc gia công nghiệp và bản hạch toán của các ngân hàng lớn, những ngân hàng mà từ nhiều thập niên nay sẵn sàng cũng như kín đáo đầu tư và quản lý những khoản tiền bạc tỉ đánh cắp từ những dân tộc Ả Rập (và không chỉ riêng họ). Sự đối nghịch giữa sự nhiệt tình và lòng can đảm đáng khâm phục của người Ả Rập về một mặt và sự dè dặt giống như đang hôn mê, nhạo báng của các chính khách Phương Tây ở mặt kia thật là không thể nào rõ rệt hơn được nữa. Trong khi người Ả Rập viết nên lịch sử thì người Mỹ và người Âu lo lắng bảo đảm các lợi ích kinh tế và sự phát triển của giá dầu. Thay vì đưa tay ra cho người láng giềng ở phương Nam, cùng vui mừng với họ và giúp đỡ họ, nỗi lo sợ về những dòng người tỵ nạn không thể kiểm soát được từ Bắc Phi lại thống trị trước hết trong giới chính trị và truyền thông. Sau cuộc Cách mạng, tròn 20.000 người tỵ nạn từ Tunisia đã vượt thành công con đường nguy hiểm qua Địa Trung Hải đến Ý. Rom và Paris không nghĩ ra được gì nhiều hơn là tạm thời đình chỉ Hiệp ước Schengen và qua đó mang rìu bổ vào những hiệp định châu Âu. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đức biểu hiện sự đồng cảm, Đan Mạch còn tiến thêm một bước nữa và lại thực hiện kiểm soát biên giới rộng khắp. Để so sánh: Tunesia đã thu nhận tròn 300.000 người tỵ nạn từ Libya và phần lớn người dân đều thể hiện tình đoàn kết với các nạn nhân của Ghaddafi.

 Những hình ảnh ở trong đầu

Những thèm muốn về kinh tế và địa chính trị trộn lẫn với một sự phân biệt chủng tộc tiềm ẩn, cái chấp nhận sự toàn quyền của các nhà độc tài mà không phê phán và đã không muốn hiểu, hay vẫn không muốn hiểu, rằng sự câm lặng kéo dài của các dân tộc là hậu quả của sự đàn áp chứ không phải là một thực tế văn hóa. Người Ả Rập phải cần một bàn tay cứng rắn. Anh ấy trước sau gì thì cũng chẳng hiểu gì về dân chủ cả, về tinh thần thì anh ấy chỉ biết Kinh Coran và khăn trùm đầu.

Những nhà cai trị người Ả Rập đã chấp nhận phần lớn các luật chơi do Phương Tây đặt ra. Chấp nhận càng rõ ràng thì tình hữu nghị ở hai bên bờ Địa Trung Hải lại càng sâu đậm. Và vẫn còn như thế ngay cả khi cuộc Cách mạng đã diễn ra, như ở ví dụ của Nữ Bộ trưởng đã từ chức của Bộ Ngoại giao Pháp. Các phản ứng dè dặt về lần nổi dậy lịch sử tiếp tục kéo dài sự đồng lõa lâu năm của các chính trị gia Phương Tây với đồng nghiệp Ả Rập của họ. Với sự khước từ hiện thực hầu như không còn có thể tăng thêm được nữa, nguyên Tổng Thống Pháp Jacques Chirac đã tuyên bố trong một chuyến viếng thăm chính thức ở Tunis năm 2003: “Quyền quan trọng nhất của con người là quyền có lương thực, được chăm sóc y tế, giáo dục và nhà ở … Nhìn như thế thì Tunisia rất tiến bộ khi so với những nước khác.” Sau khi chính phủ Liên bang [Đức] ký kết một hiệp định dẫn độ với Tunisia năm 2003, cái đơn giản hóa việc trục xuất những người Tunisia xin tỵ nạn đã bị từ chối, nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ [Đức] Otto Schily đã ca ngợi “các truyền thống tự do và pháp quyền” trong đất nước của Ben Ali.

Cuộc Cách mạng Ả Rập dịch chuyển những hình ảnh mà chúng ta có trong đầu về Phương Đông. Điều đấy tạo nên bất an và lo sợ. Từ phương diện cân nhắc sao cho có lợi, cái thống trị trong các nền văn hóa Phương Tây, một cuộc cách mạng có một cái gì đó gây xáo trộn sâu sắc. Con người ở đấy tự đổi mới mình về chính trị, liều mạng sống của họ, trong khi chúng ta ở đây trước hết là muốn bảo quản sở hữu của chúng ta. Hay đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, kết hợp với wellness. Những người dựa sự nhận dạng của mình trên việc phân cách mình với người khác, tin chắc rằng mình thuộc một dân tộc, một cộng đồng có những giá trị chung, một nền văn hóa, một nền văn minh có ưu thế hơn, tốt hơn, có giá trị cao hơn những cái khác – người đấy bây giờ phải đối diện với những nhận thức đau đớn.

Một thành ngữ Trung Hoa nói rằng: khi ngọn gió biến đổi thổi lên thì có người xây tường và người khác xây quạt gió.

Đạo Hồi và dân chủ

Trong các xã hội Phương Tây, sự chạm trán với đạo Hồi, với lịch sử và văn hóa của nó, với những gương mặt và hình dạng xuất hiện của nó, thường mắc phải một cảm nhận bị chiếu ảnh. Hiện thực bị che chắn mất, nhường chỗ cho một hình ảnh Hồi giáo được cấu thành từ sợ hãi, định kiến, khước từ, cái nhiều lần đã dẫn đến sự khước từ công khai tất cả những gì thuộc Hồi giáo. Nhìn bề ngoài, đấy là một phản ứng trước khủng bố và bạo lực, những cái do người Hồi giáo tiến hành và gây nguy hại cho các xã hội tự do của chúng ta. Từ cách nhìn này, chậm nhất là từ 11 tháng 9 năm 2001, Hồi giáo là một tôn giáo bước ra để chiếm lĩnh thế giới. Tương ứng với điều đấy, những ai cố gắng mang lại một hình ảnh khác biệt đều hưởng tiếng xấu của một người xem thường, biện hộ cho tôn giáo, “hiểu đạo Hồi”. Ở châu Âu cũng như trong Hoa Kỳ, nỗi lo sợ đạo Hồi hiện giờ là mẫu số chung nhỏ nhất của các xã hội đang đánh mất các niềm tin về thế giới quan và đánh mất sự bảo đảm về kinh tế của chúng trong diễn tiến của toàn cầu hóa. Nó đã trở thành một yếu tố chính trị, từ rìa phải cho tới trung tâm bình dân.

Có thể cãi nhau vô tận về đạo Hồi, nếu như không làm rõ ngay từ đầu các mẫu hình cảm nhận là nền tảng. Những người có quan điểm từ chối hay thù địch với đạo Hồi nói chung, những người cho rằng người Hồi giáo là người Neandertal của thời Hiện đại, những người chưa báo giờ học cách tự chất vấn về góc nhìn của mình, ai có cảm giác dễ chịu trong thế giới của những điều mình tin tưởng, cũng sẽ phán xét cuộc Cách mạng Ả Rập khác với một người – chúng ta hãy gọi là: công dân thế giới. Một người bạn của những cái cối xay gió trong thời của biến đổi. Một người đã học cách xem quan điểm của mình là một trong nhiều quan điểm có thể. Không lầm lẫn sự thật với những lời nói dối của quyền lực và không nhất định phải theo ý kiến của số đông.

Câu hỏi, liệu Hồi giáo và dân chủ có phù hợp được với nhau hay không, đã được nhắc đến. Về cơ bản là nó vô lý. Thể hiện một tư cách mà trong đó cái được cho là sự hiểu biết, một cảm giác thắng thế rõ rệt, sự rập khuôn và đơn giản là lười suy nghĩ đã gặp nhau. Tại sao người theo đạo Hồi lại không có khả năng đi đến dân chủ nếu như họ có được cơ hội để thực hiện việc đấy? Việc một người nào đó thuộc một tín ngưỡng nào đó nói lên được điều gì về khả năng hay không có khả năng dân chủ của người đấy? Nguyên nhân cho sự quá độ đã bị chặn lại của thế giới Ả Rập-Hồi giáo, từ một xã hội phong kiến sang một xã hội công nghiệp, có nằm trong tôn giáo hay không? Nếu có thì chính xác ở đâu? Sách Khải Huyền có chịu trách nhiệm cho việc này không? Hay là những tục lệ và tập quán được thực hiện hàng ngày của một tín hữu bình thường? Người Sunni có lỗi hay không, khuynh hướng đa số trong Hồi giáo, hay người Shia? Các nhà Khai Sáng và Cải Cách trong Hồi giáo? Các nhà thần học bảo thủ? Những người thần bí, Chính Thống giáo? Cấu trúc thị tộc và bộ tộc có được viết ra trong Kinh Coran hay không? Việc phụ nữ là thứ yếu trong xã hội Hồi giáo có được các nhà tiên tri mong muốn không, hay đấy là biểu hiện của một đạo đức cổ xưa đã xơ cứng lại?

Thuộc trong số những niềm tin cơ bản của giới chính khách Phương Tây lúc trước cuộc Cách Mạng là việc các nhà độc tài sẽ bảo đảm an ninh và ổn định. Khi niềm tin này lộ ra là một sự sai lầm thì không phải sự tự phê phán đi tiếp theo sau đấy, mà là cái nhìn sợ hãi và lo lắng về phía trước: Điều gì sẽ xảy ra khi bây giờ các Huynh Đệ Hồi Giáo sẽ nhận lấy quyền lực ở Ai Cập? Rồi họ có cùng Hamas, Hisbollah và Iran đe dọa Israel hay không, bãi bỏ Hiệp ước Hòa bình, mang tư thế chống Phương Tây?

Về Hamas: Những người Hồi giáo Palestine (xuất phát từ Huynh Đệ Hồi Giáo!) đã chiếm đa số phiếu trong cuộc bầu cử tự do và bí mật năm 2006, do Liên minh châu Âu giám sát. Nếu như người ta đi theo logic đang thống trị ở Phương Tây thì đấy là bằng chứng cho việc rằng người Hồi giáo, vừa mới được phép đi bầu, không nghĩ ra được điều gì tốt hơn là bỏ phiếu cho kẻ thù của những giá trị chúng ta và/hay kẻ thù của Israel. Việc thêm lần nữa đặt ra câu hỏi, liệu Hồi giáo và dân chủ có thật đi cùng với nhau hay không? Vì tất nhiên là chúng ta đấu tranh cho tự do và dân chủ ở khắp nơi trên thế giới – cho tới chừng nào mà kết quả bầu cử phù hợp với chúng ta. Nếu không được như thế, chúng ta cũng không phản đối một cuộc đảo chính quân đội như năm 1992 ở Algeria, để ngăn chận “Mặt trận Cứu rỗi Hồi giáo” thắng cử. Cũng không chống lại sự phong tỏa dải Gaza, để trừng phạt người dân ở đấy vì thái độ bầu cử của họ, bao gồm cả cuộc chiến chống Hamas vào lúc giao niên 2008/09. Dân chủ hay tự do – tất cả đều có ranh giới của nó. Câu hỏi tại sao lại có những kết quả bầu cử như thế không hề được đặt ra –hay được trả lời nhờ vào những giáo điều vững chắc. Vì Hồi giáo có khuynh hướng bạo lực và cuồng tín. Người ta nói Hồi giáo và có ý chỉ những người theo đạo Hồi. Điều đấy nghe có vẻ vô hại và đúng đắn về mặt chính trị.

Sự sợ hãi Hồi giáo không chỉ phá hỏng sự chung sống của những người có tiểu sử khác nhau trong một xã hội toàn cầu hóa. Nó cũng ngăn chận, trong chính trị đối nội cũng như đối ngoại, một tranh luận khách quan về những vấn đề đang tồn tại và dịch chuyển những mâu thuẫn lợi ích lên bình diện của một “cuộc đấu tranh của các nền văn hóa”, cái biết cách phân biệt tốt xấu rõ ràng. Vì thế mà cũng có gì đáng ngạc nhiên khi đạo Hồi và Trào lưu Chính thống Hồi giáo, cũng được gọi lả Chủ nghĩa Hồi giáo hay Hồi giáo chính trị, trong cảm nhận ở đây được đánh đồng với nhau. Các khái niệm này mô tả một phát triển đặc biệt thời sau này của tín ngưỡng Hồi giáo, chưa được 100 năm tuổi, cái có mục đích là chiếm giữ quyền lực và thực hiện nó trên cơ sở của (cái được gọi là) những giá trị Hồi giáo, thường trong hình thức của Luật Hồi giáo, Sharia. Trong đó, nội dung tín ngưỡng được công cụ hóa cho chính trị và được dùng để tác động đến quần chúng. Trào lưu Chính thống không chỉ là một hiện tượng riêng của đạo Hồi, nó có trong tất cả các tôn giáo. Những người theo Trào lưu Chính thống đấu tranh cho các lý tưởng khác của cách sống và của các nguyên tắc trật tự xã hội khác với ví dụ như những người hiện đại. Họ trước hết là bảo vệ cho một quyền lực xưa cũ được xem là đang bị đe dọa, trong kinh tế, chính trị và nhất là trong gia đình. Những câu hỏi về phụ nữ và đạo đức theo đó không phải là những đề tài thay thế cho các lý do “thật sự”, mà đúng là đứng trong trung tâm của cuộc đấu tranh.

Những người của Trào lưu Chính thống Hồi giáo muốn gì?

Cần phải phân biệt Trào lưu Chính thống Hồi giáo với Chính thống giáo, như được thể hiện trước hết là ở Đại học Al Azhar trong Cairo, quyền lực tối cao trong Hồi giáo Sunni. Nó cũng cần phải được phân biệt với Hồi giáo nhân dân, với những huyền bí tín ngưỡng của nó (đạo Sufi) và tôn thờ thánh thần, với những người tiên tri rày đây mai đó và những người bói toán của nó. Nhưng trước hết là cần phải phân biệt nó với Hồi giáo cổ truyền mà đại đa số những người Hồi giáo đều theo nó. Tức là với Hồi giáo mà đã được thực hành bởi những người tin vào nó từ thời xưa, được các nhà thần học và học giả về luật lệ, được các triết gia và khoa học gia, được các nghệ sĩ và thi sĩ làm gương và diễn giải. Luật lệ và văn hóa, cấu trúc xã hội, sự cảm nhận các giá trị nói chung là chịu ảnh hưởng sâu đậm của quan niệm tôn giáo truyền thống này. Các ranh giới giữa những thế giới khác nhau của Hồi giáo cũng không rạch ròi.

Chủ nghĩa Hồi giáo là một sự phản khán về xã hội cũng như chính trị. Thông thường, nó không đưa ra được một mô hình để vượt qua được những vấn đề đang tồn tại, hơn thế, nó là một triệu chứng của sự khủng hoảng. Một mô hình tư tưởng và mang lại sự nhận diện cá nhân trước hết là cho những người bị mất địa vị trong xã hội. Tuy vậy, cũng không được quên một thiểu số quan trọng từ những người “tự yêu mình và đã bị tổn thương” từ giới thượng lưu và trung lưu, những người đối diện với sự biến đổi xã hội quá nhanh chóng, như trong các quốc gia vùng Vịnh, thường mơ về một “tổ ấm”. Họ thường khâm phục và  đồng thời cũng khinh miệt Phương Tây, trước hết là các cách thức sống phóng khoáng của nó và tự hỏi rằng tại sao họ lại không tự mình đặt dấu ấn lên thế giới, như tổ tiên của họ trong đầu thời Trung cổ, kỷ nguyên vàng son của Hồi giáo. Trên bình diện lãnh đạo, có nhiều người đã tốt nghiệp đại học, những người mà không tìm thấy một cơ hội cho sự nghiệp nào ở những nơi khác. Xuất phát từ sự băn khoăn về hiện đại, ngoại trừ những thành tựu về kỹ thuật như Internet, những người của Trào lưu Chính thống Hồi giáo thích chạy trốn vào trong một quá khứ đã được lý tưởng hóa, thời đầu của Hồi giáo mà được xem như là toàn hảo: khi nhà tiên tri Mohammed cùng với chỉ một vài người khởi hành để lập dựng một đế chế.

Một giáo viên tiểu học trẻ tuổi đã làm sống lại những hy vọng không thành về một tầm vóc to lớn cho Hồi giáo. Hassan al-Banna (1906-1949) được xem là nhà tư tưởng nổi tiếng đầu tiên của Trào lưu Chính thống Hồi giáo. Năm 1928, ông thành lập Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập, hình thức nguyên thủy của tất cả các phong trào Hồi giáo và cho đến ngày nay vẫn còn hoạt động tích cực trong nhiều quốc gia Ả Rập. Hassan al-Banna tin rằng đạo Hồi chính là một trật tự sống rộng lớn, duy nhất và không thể so sánh được, vì đã được chính Thượng Đế bộc lộ ra. Những người thuộc Trào lưu Chính thống Hồi giáo thường hay từ chối việc diễn giải những bản văn kinh điển, vì điều đó có nghĩa là giải thích lời của Thượng Đế. Phái Chính thống giáo của đạo Hồi chính là địch thủ không khoan nhượng của họ, vì quan điểm đấy đặt dấu hỏi lên quyền diễn giải tối thượng của họ và qua đó là yêu cầu về quyền lực của họ. Cả một thời gian dài, người Hồi giáo dù theo định hướng nào cũng thống nhất với nhau trong hai mục đích: đấu tranh chống những kẻ cầm quyền bất tài và tham nhũng của họ, và giải phóng thế giới Ả Rập-Hồi giáo khỏi Phương Tây và ảnh hưởng của nó. Thời đấy, vấn đề ở Ai Cập là cuộc đấu tranh chống những ông chủ thuộc địa Anh, ngày nay, Mỹ là kẻ thù lớn của Hồi giáo: Hoa Kỳ và đồng minh Israel ở Cận Đông của nó.

Thế nhưng Huynh Đệ Hồi giáo không dừng lại ở ý thức hệ. Từ những ngày đầu tiên, họ đã có những dịch vụ xã hội không mất tiền, nhưng bữa ăn cho người nghèo hay chăm sóc về y tế. Điều đấy giải thích cho sự ủng hộ to lớn trong quần chúng, những người không trông mong được nhà nước giúp đỡ. Tại tất cả các nhóm Hồi giáo, “truyền đạo” và giúp đỡ nhau bao giờ cũng đi tay trong tay, cả ở Hamas và Hisbollah (người Shia).

Kế tiếp theo sau Hassan al-Banna, người có lẽ đã là nạn nhân của một cuộc tập kích của mật vụ Anh, là nhà xuất bản và hoạt động xã hội Sayyid Qutb (1906-1966), người cũng như al-Banna có quê quán ở Thượng Ai Cập. Năm 1950, sau một thời gian ở Hoa Kỳ, ông ấy tham gia Huynh Đệ Hồi Giáo. Ông ấy nhìn sự chia cắt giữa tôn giáo và cuộc sống xã hội, như đã diễn ra ở Phương Tây, là nguyên nhân cho những căng thẳng xã hội, cho phân biệt chủng tộc và thiếu tình đoàn kết. Đồng thời, ông ấy phản đối sự Phương Tây hóa về văn hóa đang bắt đầu trong thế giới Ả Rập. Sau một cuộc ám sát Nasser bất thành được cho là của Huynh Đệ Hồi Giáo, ông với nhiều người khác phải vào tù. Ở đấy, ông viết quyển sách với tựa đề “Những cột mốc”. Luận điểm chính của ông: chỉ với sự giúp đỡ của cách mạng, những bất công bằng xã hội mới biến mất. Ông hiểu cách mạng là việc đạo Hồi, như một cách sống bao quát, chiếm ưu thế trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. Từ cách nhìn của ông ấy, nhà nước Hồi giáo không cần tổng thống mà cũng không cần vua, hơn thế, Thượng Đế chính là người cai trị và Sharia chính là đạo luật duy nhất. Sau khi “Những cột mốc” được xuất bản, Sayyid Qutb, lúc này đã được trả tự do, lại bị bắt giam và cuối cùng bị xử tử. Song song với đó, Huynh Đệ Hồi Giáo bị cấm. Họ đi vào bí mật, cán bộ và nhiều thành viên phải chạy trốn sang Ả Rập Saudi, nơi họ được nhanh chóng tiếp nhận. Quốc gia ở sa mạc, nước sở hữu tài nguyên dầu mỏ lớn nhất thế giới, đang đứng trước ngưỡng của một cuộc bùng nổ kinh tế không tiền khoáng hậu.

Quyền lực và tôn giáo

Mãi đến năm 1932, Ả Rập Saudi mới thành hình, nhưng lịch sử hiện đại của đất nước này đã bắt đầu ngay từ thế kỷ 18 với sự liên minh giữa người lãnh tụ bộ tộc Mohammed Ibn Al Saud và nhà truyền giáo Mohammed Ibn Abd al-Wahhab (1703-1791). Học thuyết do ông thành lập, Thuyết Wahhab, cho tới ngày nay là giáo điều nhà nước trong Ả Rập Saudi và cuối cùng cũng là một biến thể thời đầu của Trào lưu Chính thống Hồi giáo, chỉ dựa trên những quy tắc luật lệ và mô hình dân túy từ thế kỷ thứ bảy, thời của nhà tiên tri Mohammed và những người đầu tiên tiếp bước theo ông ấy. Đấy là một liên minh mà hai bên cùng có lợi. Thuyết Wahhab bây giờ tìm được sự hỗ trợ bởi một vương triều mạnh, và ngược lại, dòng họ Al Saud có thể hợp thức hóa về mặt tôn giáo lần chinh phục các bộ tộc Ả Rập còn lại, được bắt đầu chẳng bao lâu sau đấy, cho tới lần nhận lấy quyền lực trong vương quốc được gọi theo họ của họ, Ả Rập Saudi. Cho tới ngày nay, các nhà thần học và học giả về thuyết Wahhab vẫn còn là trụ cột cho triều đại Saud. Sự quay về quá khứ của họ giải thích, chỉ kể ra như một ví dụ, tại sao ở đấy phụ nữ không được phép lái ô tô.

Nếu không có sự liên kết với thị tộc Al Saud thì có lẽ Thuyết Wahhab vẫn còn là một phong trào không quan trọng và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn như một giáo phái, một lời chú giải của lịch sử. Thế nhưng nhờ sự giàu có qua dầu mỏ mà từ những năm 1960 nó phát triển trở thành người chi tiền quan trọng nhất cho các phong trào Chính thống Hồi giáo trên thế giới, kể cả Taliban. Với thông điệp đơn giản của nó, với niềm tin vào sứ mệnh của nó và với đạo đức nghiêm ngặt của nó, Thuyết Wahhab, trong  liên kết với tài nguyên tài chính bất tận của nó, đã xâm nhập đến tận những ngóc ngách xa xôi nhất của thế giới Hồi giáo và cũng tài trợ cho nhiều công trình xây dựng nhà thờ Hồi giáo trong châu Âu. Đối diện với một quyền lực có tác động mạnh như thế, những phiên bản tự do và sáng tỏ của Hồi giáo lại càng khó bắt rễ trong xã hội của những người Hồi giáo.

Như đã nhắc đến, lần thảm bại của giới Ả Rập trước Israel trong Chiến tranh Sáu Ngày năm 1967 đánh dấu một bước ngoặc kỷ nguyên. Kỷ nguyên của Chủ nghĩa Dân tộc Ả Rập, được thể hiện trước hết là qua Gamal Abdel Nasser, chấm dứt một cách đột ngột, thay vào đấy, đạo Hồi chính trị vươn lên trở thành một hệ tư tưởng có khả năng huy động quần chúng. Bước đường chiến thắng của nó không được Phương Tây quan tâm nhiều cho lắm vào lúc ban đầu. Cuối cùng, cuộc Cách mạng của người Shia và lần tiếp nhận quyền lực của Ajatollah Khomeini năm 1979 ở Iran đã khiến cho Chủ nghĩa Hồi giáo trở thành một yếu tố quyền lực cùa chính trị quốc tế – cũng như lần giết chết Sadat trong Ai Cập năm 1981. Tuy mô hình cách mạng của người Shia không thể xuất khẩu sang các quốc gia của người Sunni, nhưng lực thu hút của Khomeini có tác động rộng khắp trong thế giới Ả Rập.

Như một sự phản ứng lại các sự kiện ở Iran, vương triều Saudi, vương triều tự nhận lấy cho mình quyền lãnh đạo trong thế giới Hồi giáo, kêu gọi cuộc Chiến tranh Thần thánh, để giải phóng Afghanistan khỏi sự chiếm đóng của Xô viết (1979–1989) đã xảy ra trong năm của cuộc Cách mạng Iran. Một công cụ cho sự tự hợp thức hóa của dòng họ Saudi và của chính sách quyền lực Mỹ trong cuộc cạnh tranh với Khomeini và với Moscow. Người Hồi giáo quá khích từ Algeria cho tới Pakistan, trong số đó là Osama bin Laden, đổ về Afghanistan hàng nghìn, được tài trợ bởi Riad, được trang bị vũ khí bởi Washington, và chiến đấu chống cái xấu ở Hindi Kush.

Thế nhưng sau cuộc Chiến tranh vùng Vịnh 1990/91 để giải phóng Kuwait bị Iraq chiếm đóng, chức năng là van xả của Jihah quay lại nhằm vào những người tạo ra nó. Các “Chiến binh Thần thánh”, phần lớn đã trở về quê hương, bây giờ lại xem cường quốc thế giới USA đã thêm mạnh và triều Saudi như là những kẻ thù chính của đạo Hồi. Họ một phần đi vào bí mật và dùng bạo lực khủng bố để đấu tranh chống lại các chính phủ theo Phương Tây trong nước họ: ở Algeria, Ai Cập, Ả Rập Saudi, ở Jemen, ở Pakistan. Năm 1993, World Trade Center ở New York lần đầu tiên trở thành mục tiêu của một vụ khủng bố.

Tuy vậy, vào lúc ban đầu, bạo lực của những người Hồi giáo hầu như chỉ hướng đến các chính quyền Ả Rập bị căm ghét hay chống lại lực lượng chiếm đóng Israel (Hamas, Hisbollah). Những cuộc tấn công khủng bố các cơ sở của Mỹ và Phương Tây, trừ những trường hợp ngoại lệ, chỉ được ghi nhận trong nửa sau của những năm 1990 và trải qua đĩnh cao của nó vào ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Vào lúc ban đầu, những người của Trào lưu Chính thống Hồi giáo nhận được sự ủng hộ trong các tầng lớp ở phía dưới của xã hội cũng như trong giới trung lưu. Họ được lòng người dân không phải vì sự ao ước có một quốc gia thần quyền mà là vì tình cảnh xã hội và chính trị không thể chịu đựng được. Nhà thờ Hồi giáo là nơi công cộng duy nhất không hoàn toàn đứng dưới sự kiểm soát của nhà nước. Trong nhiều nước Ả Rập, không gian thuộc đạo giáo đã trở thành nơi trốn tránh cho sự phản đối. Trước hết thảy là trong Algeria, nơi mà lần thắng cử chắc chắn của “Mặt trận Cứu rỗi Hồi giáo” năm 1992 đã được ngăn chận bởi một cuộc đảo chính quân sự đẫm máu. Đối với người đi bầu, những người để râu đó là sự lựa chọn khác duy nhất trong một hệ thống chính trị giao đặc quyền vô hạn về cho một giới tinh hoa nhỏ, trong khi đa số người dân sống trong nghèo khổ tuy là đất nước này giàu về dầu mỏ và khí đốt. Giới tinh hoa cầm quyền của Algeria chủ yếu xuất phát từ giới của những người kháng chiến thuộc FLN [Front de Libération Nationale – Mặt trận Giải phóng Quốc gia], những người mà sau khi Algeria độc lập với Pháp năm 1962 không hề có ý định gì tốt đẹp hơn là chia chác nhau quốc gia và tài nguyên của nó. Tiếp theo sau đấy, các đặc quyền của họ được các người con của họ thừa hưởng. Người Algeria không còn có thể chịu đựng được nhóm mafia của mình nữa và muốn bầu cử để truất phế họ trong lần bầu cử tương đối tự do đầu tiên và – như sau này có thể thấy được – cũng là lần cuối cùng.

Sau lần đảo chính là một cuộc nội chiến đáng sợ, được cả hai bên, quân đội và người Hồi giáo, tiến hành với sự tàn nhẫn không khoan nhượng và bất chấp tổn thất. Có ít nhất là 200.000 người đã chết trong những năm sau đó. Không chỉ trong Algeria mà cả trong toàn thế giới Ả Rập, bạo lực và khủng bố của những người Hồi giáo đã khiến cho hình ảnh của họ xấu đi nhanh chóng. Giới trung lưu rời xa những nhóm sẵn sàng dùng bạo lực, giới hạ lưu thì ít hơn. Họ lo sợ một cuộc “Taliban hóa” đất nước của họ. Thay vì vậy, họ cố gắng tạo ảnh hưởng đến sự phát triển chính trị qua bầu cử. Không thành công, nhưng giới trung lưu thành thị cũng không muốn có nội chiến và vô chính phủ. Những người Hồi giáo trung hòa, ví như Huynh Đệ Hồi Giáo ở Ai Cập, những người đã từ bỏ bạo lực ngay dưới thời Sadat, hay “Mặt trận Hành động Hồi giáo” ở Jordan về phía mình lại tìm cách dàn xếp với quyền lực. Vào khoảng bước sang thiên niên kỷ mới, Chủ nghĩa Hồi giáo sẵn sàng dùng bạo lực đã trên đường rút lui, chính trị cũng như “quân sự”. Trừ một vài ngoại lệ, trong số đó là Al-Qaida.

Chúng ta hãy ghi nhận: Trào lưu Chính thống Hồi giáo khởi thủy là một phong trào chống đối có định hướng chống lại chính quyền của mình cũng như chống lại sự bá chủ của Phương Tây. Chủ nghĩa Hồi giáo không phải đồng nghĩa với khủng bố, người đạo Hồi hoàn toàn không có xu hướng bạo lực về cơ bản. Nhiều đảng điều hành nhà nước đã xuất phát từ hàng ngũ của họ. Đặc biệt là “Đảng Công bằng và Phát triển”, AK-Partisi, đang cầm quyền hết sức thành công tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Một đạo Hồi gần gũi

Song song với đó có một sự phát triển mới từ lúc chuyển đổi thiên niên kỷ, sự phát triển mà một vài nhà quan sát Phương Tây gọi là “Trào lưu Chính thống Mới”. Sau khi cuộc nổi dậy chống những kẻ đang thống trị thất bại, một “phong trào” mới thành hình. Những người Hồi giáo ngoan đạo, đặc biệt là từ giới trung lưu, chấp nhận ý nghĩ rằng không thể chiếm lĩnh quyền lực qua chính trị. Thay vào đó, họ dựa trên ý tưởng nhờ vào những lời kêu gọi về đạo đức để làm trong sạch xã hội nói chung. Những lời phê phán kẻ cầm quyền câm lặng đi. Thay vào đấy là lời kêu gọi thức tỉnh hướng đến tất cả mọi người, kể cả những người đang câm quyền, rằng hãy đối xử theo như đạo Hồi, “làm cái tốt và tránh cái xấu”. Quốc gia thần quyền không phải là mục đích mà là một cộng đồng Hồi giáo từ anh em và chị em, những người đưa tay cho nhau. “Trào lưu Chính thống Mới” không phải là một nhóm đồng nhất. Trong hàng ngũ của họ có những người Hồi giáo cũ cũng như những người theo truyền thống hay những người Hồi giáo bảo thủ.

Các nhà truyền giáo xuất hiện trên truyền hình, nhanh chóng đến được với hàng triệu khán giả, đặc biệt là nhờ vào các đài truyền hình vệ tinh mới. Thông điệp đơn giản cũng như vui mừng của họ là: Thượng Đế yêu ngươi. Một trong số những người thành công nhất của giới này là người Ai Cập Amr Khaled, một người giống như người con rể có sức thu hút, làm đầy các sân vận động mà chẳng tốn nhiều công sức và cũng được những kẻ đầy quyền lực thích nghe, vì ông ấy không làm cho ai đau: hãy chấp nhận số phận của mình, trước sau gì thì nó cũng làm những gì mà nó muốn. Cái chính là bạn hãy hạnh phúc và hãy nghĩ đến Thượng Đế. Chủ nghĩa đạo Hồi dễ chịu và gần gũi này được giới trẻ ưa thích và đã góp phần quyết định trong việc phi chính trị hóa các không gian tín ngưỡng. Đối với thế hệ Facebook, đạo Hồi là hệ tư tưởng thì ít, phần nào còn chẳng là tín ngưỡng thường ngày nữa, mà nhiều hơn là một cách sống. Người ta ăn Halal-Food (được chế biến theo đúng đạo giáo hơn), mang khăn trùm đầu từ thời trang cho tới sexy, uống Zam-Zam Cola (được gọi theo nguồn của Mekka), tìm bạn của mình qua Dating-Portal Hồi giáo, quan tâm đến ngân hàng Hồi giáo với việc cấm lấy tiền lãi, ăn kiên trong tháng Ramadan vì thấy điều đấy hay, và thích Amr Khaled vì tất cả mọi người đều thích ông ấy.

Các nhà xã hội học Ả Rập không dùng khái niệm “Trào lưu Chính thống Mới”. Thay vì vậy, họ nói về một Phong trào Salafi và còn có ý bao hàm rộng hơn nữa. Trong đó là từ Ả Rập cho tổ tông và tiền bối. Trong thế kỷ 19, người Salafi là các nhà tư tưởng đầu tiên muốn hòa giải Hồi giáo với hiện đại. Họ tuyên truyền cho một “bước ngoặc tư tưởng và đạo đức”, cho một cách đọc hiện đại Kinh Coran và yêu cầu các tín đồ hãy rút ngắn khoảng cách tri thức giữa xã hội Hồi giáo và Phương Tây. Ngày nay, khái niệm này đã bị đảo ngược lại. Theo người Hồi giáo gọi, “người Salafi” là những người không quan tâm đến một đạo Hồi gần gũi mà đến giáo điều và đến sự thực hiện một cách nghiêm ngặt luật Hồi giáo như họ hiểu nó. Đàn ông để râu, phụ nữ trùm kín và chỉ ra khỏi nhà ra có lý do chính đáng. Phong trào Salafi chủ yếu là một hiện tượng của tầng lớp dưới của xã hội và đứng gần với Thuyết Wahhab Ả Rập Saudi, thuyết ra sức giúp đỡ nó về mặt tư tưởng cũng như tài chính.

Điều đấy là một nghịch lý, khi hàng triệu người Ả Rập đã sống như công nhân ngoại quốc trong Ả Rập Saudi và đã không thích thú phong cách sống khắc khe ở đấy nhiều lắm, đi cùng với sự ra vẻ mộ đạo và đạo đức giả. Cả nước Cộng hòa Hồi giáo (Sunni) Iran cũng ít được người Ả Rập cho rằng đấy là một mô hình thành công đáng được noi theo. Các trải nghiệm với Hồi giáo chính trị trong phần lớn các trường hợp đều khiến cho người ta thất vọng. Cả Chủ nghĩa Dân tộc Ả Rập lẫn tôn giáo đều không chỉ ra được cho người dân con đường đi đến một tương lai tốt đẹp hơn. Bây giờ phải tìm những giải pháp thực dụng cho các vấn đề cụ thể. Bắt đầu với việc đuổi cổ các nhà độc tài.

Điều đấy không có nghĩa là con người phải từ bỏ niềm tin của họ, còn ngược lại nữa. Trước đây 20 năm, 90% phụ nữ Ai Cập đều không che mặt. Ngày nay là không hơn 10%. Sự phát triển này có nhiều nguyên nhân, thường có liên quan đến sự phản kháng, với sự phân định ranh giới, với sự tìm kiếm một nhận dạng riêng cho mình. Sẽ là một sai lầm nếu lầm lẫn sự ngoan đạo của nhiều người Ai Cập, và nói chung là người Ả Rập, với chính trị hóa. Cuộc tranh luận về khăn trùm đầu ở chúng ta [Đức], quay quanh sự đàn áp phụ nữ và tính không thích hợp với dân chủ, ít có liên quan hay không hề có liên quan gì đến hiện thực cuộc sống của phụ nữ Ả Rập.

Tóm lại: Hồi giáo chính trị nằm trong một quá trình biến đổi liên tục, nó không tồn tại ở bên ngoài những điều kiện khung xã hội, những cái về mặt mình lại tồn tại ngày càng ngắn ngủi hơn trong khung cảnh toàn cầu hóa. Thời vàng son của các hệ tư tưởng Hồi giáo đã qua rồi. Những người Hồi giáo sẵn sàng dùng bạo lực hoạt động trước hết là trong những quốc gia có nhiều người vô chính phủ như Somalia, Iraq, Jemen, Pakistan, Afghanistan mà Al-Qaida cũng đã tìm thấy được nơi nương náu ở đấy. Cuộc đấu tranh của Hames và Hisbollah chống lại sự chiếm đóng của Israel là một trường hợp đặc biệt. Những kẻ khủng bố theo đạo Hồi có khả năng tập kích ở khắp nơi trên thế giới. Nhưng họ không là phần của một phong trào xã hội. Tuy vậy, họ lại đặt dấu ấn nhiều nhất lên hình ảnh của Hồi giáo như là một tín ngưỡng cuồng tín, sẵn sàng dùng bạo lực. Cảm giác đấy sai lầm. Cũng như ý tưởng rằng những nhà độc tài Ả Rập sẽ bảo vệ nhà nước và xã hội trước sự cuồng tín tôn giáo. Chưa từng bao giờ như vậy. Ngược lại, họ còn cho những người Hồi giáo được toàn quyền hành động, cho tới chừng nào mà bạo lực của họ hướng đến những người ngoài đạo phê phán chính quyền, đến các nhà cải cách Hồi giáo và giới trí thức không được ưa thích. Cho đến giết người vì chính trị. Nói cách khác, Hồi giáo chính là sự thể hiện của một khởi đầu mang tính lịch sử. Nó tìm, cả bằng bạo lực, một con đường bền vững để đi vào hiện đại.

Châu Âu cũng đã trải qua những khởi đầu tương tự như thế trong hai thế kỷ vừa rồi. Và đã để lại những dấu vết đẫm máu hơn nhiều khi so với sự khủng bố tồi tệ nhất từ Hồi giáo. Chỉ cần nhớ lại những người đã chết trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến.

Michael Lüders

Nhà xuất bản C. H. Beck

Phan Ba dịch

Đọc các những chương trước ở trang Những Ngày Thịnh Nộ

Advertisements

10 thoughts on “Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 5

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s