Một châu Á đầy xung đột

Đường phố bị chận, cảnh sát với nón sắt, khiên và dùi cui. Tháng 2 năm 2011, ngôi nhà của chính phủ ở nội thành Bangkok bị bao vây. Nhiều người biểu tình đã dựng lều, người ta thảo luận trên những diễn đàn được đóng tạm bợ, ảnh chụp đền thờ Ấn độ giáo Preah Vihear được trưng ra. Đền thờ này là nguyên nhân của chiến dịch đó trước tòa nhà của chính phủ: những người đang biểu tình muốn tái sở hữu nó.

Tổng thư ký ASEAN Surin Pit đã nhắc tới tranh cãi này rồi. Di sản thế giới Preah Vihear thuộc Thái Lan hay Campuchia? Năm 1962, Tòa án Quốc tế ở Den Haag đã phân đền đấy về cho Campuchia, việc mà từ đó những người Thái có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cảm nhận như là một nỗi nhục nhã cho vương quốc của họ. Trong mùa Xuân năm 2011 lại có bắn nhau, lính chết, người dân bỏ chạy.

Tôi có những kỷ niệm đặc biệt ở nơi đấy. Năm 1998, cuộc chiến giữa quân đội chính phủ và Khmer đỏ chấm dứt, những người sau khi giành lấy quyền lực năm 1975 đã muốn cải tạo Campuchia thành một xã hội nông nghiệp bằng chết chóc và khủng bố. Khoảng 1,7 triệu người đã chết, thủ đô Phnom Pehn không còn người. Cuối cùng, Việt Nam chiếm đóng nước này, các chiến binh nông dân cộng sản rút lui về cho tới biên giới Thái Lan, nơi mà năm 1996 họ đã buông súng xuống sau những tranh cãi nội bộ – trong đó có một nhóm đã dùng Preah Vihear làm căn cứ của họ.

Đồng nghiệp và tôi bay trong một chiếc máy bay trực thăng đến đền thờ. Lúc đáp xuống, chiếc MI-8 của Nga rơi vào một bãi mìn, lật nghiên, mấy cái cánh quạt bay tứ tung đã kích nổ ba trái mìn, chỉ nhờ vào một điều kỳ diệu mà phi đội, quân nhân và nhà báo đã thoát chết và chỉ bị gãy xương hay bầm dập. Tôi chỉ bị một vài vết bầm.

Cuộc nội chiến ở Campuchia đã chấm dứt nhiều năm nay rồi, các lãnh tụ của Khmer đỏ đã bị dẫn ra trước một tòa án  quốc tế ở Phnom Penh từ 2010, một chương hết sức đen tối trong lịch sử của châu Á đã khép lại.

Cuộc tranh cãi vì ngôi đền lịch sử chỉ là một xung đột của nhiều xung đột trong châu Á. Con người gặp nhau trong nghi kỵ ở nhiều nơi, tranh cãi cháy âm ỉ giữa những nhóm sắc tộc và tôn giáo, những món nợ cũ đang chờ được thanh toán. Vẫn còn thiếu ý muốn tìm giải pháp trong giới chính trị. Thay vì vậy, các chính khách khơi dậy những cảm giác mang tính dân tộc chủ nghĩa, cố thu lợi về chính trị trong nước từ những người chết và bị thương.

Đài Loan thuộc ai?

Đầu tiên là hai cuộc tranh cãi giữa những con người nói cùng một thứ tiếng, những cái gây nguy hiểm cho sự ổn định của châu Á – cuộc tranh cãi trên Bán đảo Triều Tiên và cuộc tranh cãi quanh đảo Đài Loan.

Tháng 7 năm 2006, rượu sâm banh được khui ra ở Đài Bắc và Bắc Kinh, cán bộ và doanh nhân của hai bên vỗ vai nhau, những người múa rồng nhảy xung quanh họ.

Lúc đấy, Trung Quốc và Đài Loan ăn mừng một điểm ngoặt trong lịch sử khó khăn của họ. Hành khách từ cả hai nước bây giờ được phép thường xuyên bay trực tiếp qua Eo biển Đài Loan mà không cần phải ngừng lại ở Hongkong hay Macau, ở Nhật hay Hàn Quốc.

Cái đã từng là một điều không thể từ đấy thuộc vào cuộc sống bình nhật: máy bay Đài Loan khởi hành và đáp xuống các cảng hàng không trên lục địa và máy bay Trung Quốc trên hòn đảo. Nước Cộng hòa Nhân dân và Đài Loan đối xử với nhau bớt căng thẳng hơn. Cả hai bên đã bỏ thuế hải quan cho hơn 800 loại hàng hóa, doanh nghiệp Đài Loan được phép chào mời dịch vụ trên đất liền, một ngân hàng Đài Loan nhận được giấy phép kinh doanh tín dụng với những người đồng hương trong nước Cộng hòa Nhân dân. Khách du lịch từ đất liền thăm viếng hòn đảo, năm 2010 tổng số thương mại giữa Trung Quốc và Đài Loan là 110 tỉ dollar.

Nhưng: cuộc tranh cãi giữa nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Trung Hoa (Đài Loan) chưa chấm dứt. Nó âm ỉ từ 1949, khi người lãnh đạo phe quốc gia, Tưởng Giới Thạch, chấp nhận chiến bại của mình trong cuộc nội chiến chống những người cộng sản của Mao Trạch Đông và chạy trốn ra hòn đảo cùng với phần còn lại của quân đội và những người theo ông ấy.

Đó là câu hỏi ai là Trung Quốc thực sự, ai thuộc về ai, ai đại diện cho Trung Quốc trong các tổ chức quốc tế. Bắc Kinh có những quan điểm cương định: chỉ có “một Trung Quốc”, và Đài Loan là một phần trong đó, nói cách khác, nó thuộc đất liền. ĐCS còn đe dọa sẽ tấn công, nếu Đài Loan công khai tuyên bố độc lập, trên 1000 tên lửa chỉa vào hòn đảo.

Đã cách đây trên 40 năm rồi, khi Đài Loan – chứ không phải Bắc Kinh Mao-ít – đại diện cho Trung Quốc trong Liên Hiệp Quốc. Nhưng rồi thế cuộc thay đổi. Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon viếng thăm nước Cộng hòa Nhân dân năm 1972, ngay từ năm 1971, Bắc Kinh đã tiếp nhận ghế của Đài Loan trong Liên Hiệp Quốc. Hiện giờ chỉ có 23 quốc gia có quan hệ ngoại giao với hòn đảo, thuộc trong đó ví dụ như là Paraguay và Tòa thánh Vatican.

Trong các nước còn lại, nếu như có thì chính khách từ Đài Loan cũng chỉ được hoan nghênh dưới tư cách cá nhân, tổng thống không được đón tiếp chính thức ở đó, ông ấy còn gặp cả khó khăn trong việc tìm phi trường để tiếp nhiên liệu cho chiếc máy bay chính phủ của ông ấy nữa. Tuy vậy, Đài Loan có một đồng minh hùng mạnh: Hoa Kỳ. Washington đã cam kết có thể sẽ giúp đỡ những người trên đảo, nếu như họ bị tấn công.

Cả các chính khách ở Đài Bắc cũng giữ vững ảo tưởng đấy cả một thời gian dài, rằng chỉ họ là chính phủ chính danh cho toàn Trung Quốc. Họ còn cử ra đại biểu và thống đốc, những người ngồi trên đảo, nhưng chịu trách nhiệm cho các tỉnh đã mất ở phía bên kia của Eo biển Đài Loan. Người Đài Loan hiện giờ đã từ bỏ việc đó. Tổng thống đầu tiên do người dân bầu lên, Lý Đăng Huy, người sinh ra trên hòn đảo, năm 1999 còn nói về “hai quốc gia” nữa và qua đó đã gây ra cơn thịnh nộ lớn ở Bắc Kinh. Ba năm trước đó, một chuyến viếng thăm của Lý ở Hoa Kỳ và lần ra tranh cử của ông ấy trong cuộc bầu cử tổng thống đã khiến cho người Trung Quốc giận dữ tới mức họ bắn tên lửa về hướng hòn đảo. Washington cử hai chiếc hàng không mẫu hạm đến khu vực. Châu Á đứng ở rìa của một cuộc chiến.

Người kế nhiệm Lý, Trần Thủy Biển, một cựu luật sư thuộc Đảng Dân chủ Tiến bộ, tiếp tực đẩy Đài Loan đi theo hướng độc lập: tuy ông ấy không tuyên bố về mặt hình thức là hòn đảo độc lập, nhưng ông ấy nói về một “đất nước có chủ quyền” mà người dân của nó tuy là người Trung Quốc, nhưng đồng thời cũng là công dân của Đài Loan. Điều này đáp ứng tinh thần của đại đa số người dân, những người hãnh diện vì nền dân chủ của họ và đã chán ngán việc bị đối xử như là người Trung Quốc hạng hai trên trường quốc tế. Bây giờ họ còn nhận được hộ chiếu có thêm chữ “Đài Loan” trên trang bìa. Bắc Kinh nổi giận, năm 2005 Quốc Hội ban hành một đạo luật chống ly khai mà trong đó lời đe dọa dùng bạo lực được đổ vào trong các điều luật.

Người kế nhiệm bảo thủ của Trần, Mã Anh Cửu, tiến hành một đường lối mềm mỏng hơn. Ông ấy lui về một công thức giúp vượt qua những đối kháng – cái được gọi là “đồng thuận 1992”.

Điều gì đứng sau công thức này, cái đã được tìm thấy trong những lần đối thoại không chính thức ở Hongkong trong năm đó? Cả hai bên đều cho rằng đảo và đất liền thuộc về “một Trung Quốc”, nhưng đó là một Trung Quốc nào thì lại được “diễn giải khác nhau”. Người Bắc Kinh đặt trọng tâm đến “một Trung Quốc” nhiều hơn, người Đài Loan đến các “diễn giải khác nhau” nhiều hơn. Tổng thống Mỹ cương quyết rằng “một Trung Quốc” đó sẽ chỉ có khi trên đất liền có dân chủ.

Nhưng “đồng thuận 1992” chẳng được ghi lại ở đâu cả, và một vài chính khách còn quả quyết rằng nó nói chung là không tồn tại. Ngay đến người đàm phán thời đấy của Đài Loan, doanh nhân Koo Chen-fu, cũng cho rằng khái niệm “đồng thuận” là đã đi quá xa. “Để phản ánh sự kiện tốt hơn và ngăn chận cách sử dụng không thật”, ông ấy viết trong hồi ký của mình, “đồng thuận” cần phải được thay thế bằng từ “thông hiểu”.[1]

Thế nào đi nữa thì Bắc Kinh cũng tuyên bố rằng câu hỏi về Đài Loan là thuộc “lợi ích cốt lõi” của họ và dường như sẽ quyết tâm đánh đổi sự trỗi dậy về kinh tế để lấy một cuộc chiến, nếu như người Đài Loan tuyên bố ly khai. Nước Cộng hòa Nhân dân vẫn ngăn chận không cho Đài Loan gia nhập các tổ chức quốc tế quan trọng, các nhà thể thao Đài Loan chỉ được phép bước ra dưới lá cờ “Đài Bắc Trung Quốc” và các quan chức Bắc Kinh yêu cầu tất cả các vị khách quốc gia phải công nhận “chính sách một Trung Quốc” này – điều được nhanh chóng chấp thuận, từ tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama cho tới thủ tướng liên bang [Đức] Angela Merkel.

Trích đăng từ quyển “Cuộc Cách mạng châu Á”, của Andreas Lorenz, do Phan Ba dịch, mời các bạn vào trang Tủ sách Phan Ba để tải về trọn quyển.


[1] Huang Tiancai, Huang Zhaoxing: “Jinhanmeixiang: Gu Zhenfu rensheng jishi”, Lianjing Chubanshi, Taipei, 2005

Advertisements

4 thoughts on “Một châu Á đầy xung đột

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s