Bốn sự công bằng

Phan Ba dịch từ Der Spiegel số 51/1968 (16/12/1968)

Nguyễn Cao Kỳ, phó Tổng Thống cứng rắn của Nam Việt Nam, tỏ ra khiêm tốn. “Chúng tôi không yêu cầu phía bên kia đầu hàng, mà chỉ yêu cầu công bằng và lý trí phải chiến thắng”, ông ấy nói lúc đến Paris.

Nhưng lý trí và công bằng trên chiến trường Việt Nam cũng như ở các cuộc đàm phán hòa bình tại Paris lúc nào cũng là bốn quan điểm lý trí và bốn quan điểm công bằng đấy, cái đã nuôi dưỡng cuộc chiến từ nhiều năm nay và hầu như không mang hòa bình lại gần hơn từ nhiều tháng nay – mặc cho tất cả những cái được gọi là điểm ngoặt của năm 1968:

  • Vào ngày 31 tháng 3, Tổng Thống Johnson tuyên bố giới hạn cuộc chiến tranh ném bom ở phần tư phía Nam của Bắc Việt Nam
  • Vào ngày 13 tháng 5, Washington và Hà Nội lần đầu tiên đàm phán – liên tục kể từ lúc đấy – ở Paris.
  • Vào ngày 31 tháng 10, Johnson cũng chấm dứt phần còn lại của cuộc chiến tranh ném bom chống Bắc Việt Nam.
  • Vào ngày 26 tháng 11, Nam Việt Nam ngừng gây bế tắc chống ngưng ném bom và Hội nghị Paris
  • Vào ngày 8 tháng 12, phó Tổng Thống Kỳ với đội ngũ trên 80 người bước ra khỏi chiếc Boeing của ông ấy ở Paris.

Bốn phái đoàn đã đủ. Nhưng bây giờ lại bắt đầu cái mà một thành viên của phái đoàn Mỹ gọi là “chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ chuẩn bị”: phó đoàn đàm phán Mỹ Cyrus Vance và phó đoàn đàm phán của Hà Nội Đại tá Hà Văn Lâu thống nhất trong một cuộc nói chuyện kéo dài bảy giờ ngoài những việc khác là về việc rằng quy trình cho các phiên họp tiếp theo cần phải được bàn thảo chi tiết trong phiên họp đầu tiên. Các phái đoàn cần phải bước vào gian sảnh đàm phán qua hai cửa; nhà báo không được phép vào.

Cho tới cuối tuần vừa rồi họ còn chưa thống nhất về hình dạng của cái bàn đàm phán – vuông, chữ nhật hay tròn – và ngày tháng của phiên họp đầu tiên.

Vì Bắc Việt Nam tiếp tục khăng khăng yêu cầu rằng phải nhận rõ ra được đại diện của cả bốn bên ở Paris: Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam, Nam Việt Nam và Mặt trận Giải phóng, tổ chức chính trị của Việt Cộng. Để làm việc đấy thì phải cần một cái bàn hình vuông.

Nhưng Nam Việt Nam, để tránh công nhận Mặt trận Giải phóng, trước sau cũng chỉ muốn có hai đối tác đàm phán – “phía đồng minh” và “phía bên kia” – ở hai bàn chữ nhật. Thứ tư vừa rồi, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Sài Gòn Trần Chánh Thành còn giải thích rằng phái đoàn của ông ấy sẽ rời gian sảnh nếu như Mặt trận Giải phóng dưới quyền của nữ trưởng đoàn Bình được phép có một bảng tên riêng hay còn được phép trương cờ của họ nữa.

Sài Gòn phủ nhận – không đúng – rằng Việt Cộng nhiều hơn là cánh tay nối dài của Hà Nội. Việt Cộng và Hà Nội khẳng định – đúng –, rằng Sài Gòn không đại diện cho người dân Nam Việt Nam. Và Hà Nội phủ nhận – không đúng –, rằng họ can thiệp vào Nam Việt Nam.

Sự rối rắm của những lời buộc tội và yêu cầu này che dấu bốn quan điểm – quan điểm nào tự nó cũng mâu thuẫn:

  • Washington muốn rút quân mà không để cho Nam Việt Nam rơi ngay vào tay của người Cộng sản.
  • Hà Nội muốn chiếm miền Nam mà không phải lại bị Mỹ ném bom.
  • Sài Gòn muốn giữ người Mỹ ở lại trong nước mà không bị họ bắt buộc phải bước vào trong một liên minh – có lẽ là không thể tránh khỏi được – với Việt Cộng.
  • Việt Cộng thì lại muốn thông qua đúng một chính phủ liên minh để nắm lấy quyền lực trong phần đất mà họ vẫn còn chưa chiếm được của Nam Việt Nam.

Vì tình trạng này không để cho người ta chờ đợi những giải pháp nhanh chóng nên cả bốn bên đều đặt hy vọng của họ vào một yếu tố mà vào thời điểm này vẫn còn chưa lường trước được: chính sách của tân Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon từ ngày 20 tháng 1. Ở Paris, người ta dự đoán rằng các phiên họp làm việc có thể sẽ không diễn ra trước tháng 3 hay tháng 4.

Tất nhiên là Richard Nixon cũng sẽ ít có tự do quyết đoán cho chính sách của ông ấy cũng như Lyndon Johnson, mà về cơ bản là lệ thuộc vào Hà Nội: nếu Bắc Việt Nam cứ tiếp tục theo đuổi mục đích tối đa của họ, thống nhất miền Bắc và miền Nam dưới lá cờ của họ, thì nước Mỹ không thể giảm lực lượng quân đội của họ trên đất liền châu Á một cách đáng kể mà không bỏ rơi chính phủ ở Nam Việt Nam. Nhưng nước Mỹ phải bỏ gánh nặng Việt Nam, nếu như muốn giải quyết các vấn đề nội bộ ngày một cấp bách hơn.

Giới quân sự của ông ấy vì thế mà đã – tập – bỏ rơi. Ở Sài Gòn cũng như ở Washington, họ chuẩn bị những nghiên cứu để giảm lực lượng quân đội Hoa Kỳ từ hiện nay là 537.500 người xuống còn 200.000 người hay ít hơn thế nữa.

Mặt trận Giải phóng lợi dụng thời gian chờ đợi cho một mục đích. Trong những vùng do họ thống trị, lâu nay họ đã thành lập một nền hành chính có hiệu quả cho tất cả các lĩnh vực của cuộc sống – kinh tế, quân sự, trường học, an ninh và ngay cả bưu điện nữa. Bây giờ họ còn nổ lực cố gắng nhiều hơn trước đây để làm toàn hảo mạng lưới đó trong những vùng tranh chấp – những vùng mà Việt Cộng thống trị vào ban đêm và chính phủ vào ban ngày: họ cho in tiền riêng để cũng có thể đánh bại Sài Gòn về mặt tiền tệ vào thời điểm thích hợp.

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 51/1968: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-45865144.html

Advertisements

4 thoughts on “Bốn sự công bằng

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s