Cuộc chiến nhỏ của người Bắc Việt ở Paris

Đàm phán hòa bình. Biếm họa của tờ The Guardian
Đàm phán hòa bình. Biếm họa của tờ The Guardian theo Der Spiegel 20/1968

Phan Ba dịch từ Der Spiegel  20/1968 (13/05/1968)

Trong “thủ đô cùa hòa bình” (theo Ngoại trưởng Pháp Couve de Murville về thành phố Paris của nước Pháp) đã có cãi nhau trước khi người ta bàn về hòa bình,

21 người đàn ông và hai phụ nữ từ Bắc Việt Nam, nhóm tiên phong cho các đàm phán về đàm phán, bắt đầu một cuộc chiến tranh nhỏ – không phải chống lại các đối thủ của họ từ Hoa Kỳ, mà chống lại chủ nhà người Pháp của họ.

Khách sạn “Lutetia” ở bờ trái sông Seine trong Khu phố La tinh không đủ sang trọng cho họ: một khi người Mỹ đã vào ở trong “Crillon” của những người nổi tiếng cạnh Place de la Concorde thì người Bắc Việt Nam muốn ít nhất là một lâu đài nhỏ hay một ngôi nhà sang trọng cho họ.

Và đối với người Việt, “Trung tâm Hội nghị Quốc tế” ở góc đường Avenue Kleber và Avenue des Portugais – khách sạn “Majestic” trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai là tổng hành dinh của Gestapo [Mật vụ Đức] ở Pháp – không đủ đồ sộ để là khung cảnh cho các cuộc đàm phán. Nếu như họ phải ngồi vào cùng bàn với người Mỹ thì ít nhất là nó phải nằm trong một tòa nhà mang tính lịch sử nhiều hơn nữa.

Kỹ thuật viên người Mỹ bận rộn dựng một trung tâm thông tin với máy tính, dàn máy cho phiên dịch dịch đuổi và điện thoại trắng về Tòa Nhà Trắng. Trong lúc đó thì người Việt – với phát ngôn viên báo chí riêng của mình – dựng hình ảnh của mình lên.

Họ muốn tạo một bầu không khí xứng đáng từ trước hội nghị, để chứng minh cho mình và cho cả thế giới rằng về mặt ngoại giao, họ cũng ngang hàng với gã khổng lồ Mỹ, người đã không thể vật ngã họ trên chiến trường.

Họ chưa bao giờ thành công với một sự tự xác nhận mình về mặt ngoại giao như thế. Còn ngược lại nữa: từ hơn hai mươi năm nay, Hồ Chí Minh của Hà Nội đã phải chịu đựng lần chấn thương vì đã thua mất trên bàn đàm phán những gì mà ông ấy đã thắng được trên chiến trường, hay là đã bị các đối thủ chơi xỏ.

Ví dụ như Hồ đã tự đi đến Pháp trong tháng 6 năm 1946 để thương lượng ở Fontainebleau về việc công nhận một nhà nước Việt Nam độc lập. Thế nhưng các cuộc đàm phán thất bại – và chẳng bao lâu sau đó, nước Pháp đã gửi quân đội đến để chống du kích Việt Minh của Hồ.

Binh lính Pháp hy sinh, tinh thần chiến đấu của Pháp đã biến mất trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, thuộc địa của Pháp tan vỡ – nhưng người trả giá lại là Hồ.

Tại Hội nghị Đông Dương Genève năm 1954, nước Pháp thua trận vượt mặt người chiến thắng và thống nhất với người anh cả của nó: Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Kreml Molotov chấp nhận việc chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17. Để đáp lại, Thủ tướng Pháp Mendès-France hứa hẹn sẽ bí mật phá hỏng hiệp định về Cộng đồng Phòng thủ châu Âu.

Khi cả thủ tướng Chu Ân Lai của Bắc Kinh cũng chấp thuận vụ mua bán đấy và từ chối giúp các du kích của Hồ, người đại diện của Hà Nội, thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày nay, tức sùi bọt mép – nhưng ông ấy đã ký.

Vì chậm lắm là trong hai năm tới, trông có vẻ như vậy, Việt Nam trước sau gì cũng thuộc về Bác Hồ: Hiệp định Genève yêu cầu bầu cử tự do cho tới tháng 7 năm 1956. Nhưng khi thời hạn cuối cùng đến, Hồ Chí Minh đứng đấy một mình: cả Xô Viết lẫn người Trung Quốc đều không yêu cầu thực hiện hiệp định.

Averell Harriman (trái) đến Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Avenue Kleber vào ngày 13 tháng 5 năm 1968
Averell Harriman (trái) đến Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Avenue Kleber vào ngày 13 tháng 5 năm 1968. Ảnh: Corbis

“Hồ Chí Minh và người của ông ấy”, nhà báo Mỹ Stanley Karnov đã phán xét như thế, “có thể khẳng định rất đúng, rằng họ … đã bị người Pháp, người Anh, người Nga và người Trung Quốc đỏ đánh lừa.”

Hồ không muốn bị người Mỹ “đánh lừa”. Vì thế mà trong cùng thời gian đó, khi đội đàm phán tiên phong của ông ấy mở đầu một cuộc chiến nhỏ ở Paris vì các nghi lễ và dinh thự hào nhoáng, ông ấy đã đẩy cái giá lên cao hơn nữa – qua một trận đánh vào Nam Việt Nam.

Với chiến dịch “Toàn Thắng”, người Mỹ và đồng minh của họ được cho là đã quét sạch du kích ra khỏi vùng quanh Sài Gòn trước đây bốn tuần (SPIEGEL 17/1968). Bây giờ, khi Xuân Thủy, người đàm phán của Hà Nội đang trên đường đến Paris qua Moscow, “Toàn Thắng” hiện hình ra như là một sự phá sản toàn bộ.

Hàng ngàn người lính Bắc Việt và du kích Việt Cộng đã thâm nhập vào thủ đô Nam Việt Nam, treo lá cờ cách mạng lên trong khu phố người Hoa Chợ Lớn, bắn mở đường vào đến gần trung tâm thành phố – được cổ vũ bởi Đài phát thanh Hà Nội: “Đừng sợ hy sinh! Tiêu diệt càng nhiều quân Mỹ càng tốt để chúng ta toàn thắng ở miền Nam!”

Những phát đạn đó không trúng người Mỹ: bốn nhà báo từ Úc và Anh bị bắn chết trên xe Jeep của họ, một đội hành hình của Việt Cộng đã giết chết bí thư thứ nhất của Đại sứ quán Đức, Hasso Freiherr Rüdt von Collenberg.

Đại sứ Đức cho một phần ba nhân viên sứ quán bay về Bangkok, Bonn triệu hồi qua điện thoại ba người thầy dạy nghề đang công tác ở Sài Gòn về trở lại Cộng hòa Liên bang [Đức].

Lần di tản được giữ bí mật, vì theo như tiến sĩ Werner Müller, phát ngôn viên của Bộ Hợp tác Kinh tế Liên bang: “Chúng tôi phải lo ngại rằng người Việt Cộng, ngay khi biết được ý định này, sẽ thâm nhập vào nhà của những người Đức vào ban đêm và lại gây ra một cuộc thảm sát mới.”

2000 lính Mỹ được cử để chiếm lại cây Cầu chữ Y ở Sài Gòn; ba trực thăng Mỹ bắn 21 hỏa tiển vào một ngôi nhà duy nhất, để triệt hạ hai người bắn tỉa. Các chiến binh đỏ lại chứng minh thêm một lần nữa, rằng họ có thể giành lấy thế chủ động vào bất cứ lúc nào tại bất kỳ địa điểm nào.

“Đường lối chiến tranh của Mỹ”, phái viên của Hồ, Xuân Thủy, khoe khoang lúc đến Paris, “ngày càng phải gánh chịu những thất bại nặng nề hơn.” Chỉ vì thế mà Washington mới sẵn sàng bắt đầu đàm phán sơ bộ.

Khi Xuân Thủy gặp người đàm phán phía Mỹ Averell Harrimann, 76 tuổi, thì các lực lượng Đỏ đang tiến quân, lộn xộn đang thống trị trong thủ đô Sài Gòn, nên ông ấy đã có thể đàm phán từ thế mạnh.

Do vậy mà quân Đỏ đã sẵn sàng thỏa hiệp trong cuộc chiến tranh nhỏ: họ chấp nhận nguyên khách sạn Majestic là nơi hội họp và vẫn ở trong khách sạn Lutetia.

Và trước những người chủ nhà mà lính của họ đã hy sinh trong rừng rậm của Việt Nam năm 1954, những người châu Á đã cúi mình chào. Chính nước Pháp đấy, nước thời trước đã bắt đầu cuộc chiến ở Việt Nam, được Xuân Thủy ca ngợi như là nơi chốn của một “truyền thống vinh quang trong cuộc đấu tranh cho độc lập, dân chủ và hữu nghị giữa các dân tộc”.

Phan Ba dịch từ Der Spiegel 20/1968: http://www.spiegel.de/spiegel/print/d-46034519.html

Đọc những bài trước ở trang Chiến tranh Việt Nam trên báo Spiegel

Advertisements

4 thoughts on “Cuộc chiến nhỏ của người Bắc Việt ở Paris

  1. […] Cuộc chiến nhỏ của người Bắc Việt ở Paris: từ hơn hai mươi năm nay, Hồ Chí Minh của Hà Nội đã phải chịu đựng lần chấn thương vì đã thua mất trên bàn đàm phán những gì mà ông ấy đã thắng được trên chiến trường, hay là đã bị các đối thủ chơi xỏ. […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s