Cuộc chạy trốn qua núi (phần 1)

1934 – 1935: “Vạn lý Trường chinh”

Ulrike Rückert

Phan Ba dịch từ chuyên san lịch sử “Trung Quốc của Mao Trạch Đông” do GEO EPOCHE xuất bản

Cuộc tổng tấn công của những người Quốc Dân Đảng trong tháng 10 năm 1934 bắt buộc Hồng Quân phải bỏ chạy. Một cuộc phiêu lưu vô định kéo dài mười hai tháng trời bắt đầu mà hàng chục ngàn người đã chết trong lúc đó. Những người sống sót sẽ quyết định tương lai. Người dẫn đầu họ: Mao Trạch Đông.

Đây là lịch sử của một chuyến lưu lạc lập nên một huyền thoại. Một hành trình dài hơn 8000 km xuyên qua một vài vùng đi lại khó khăn nhất của Trái Đất: cuộc trốn chạy của 80.000 người Cộng sản trước những người truy nã họ, quân đội của Tưởng Giới Thạch.

Những người lính của Hồng Quân hành quân cả một năm trời và trung bình chỉ sau 200 kilômét mới nghỉ một ngày. Họ đi bộ theo một hình vòng cung khổng lồ xuyên qua Trung Quốc, qua 18 dãy núi, 24 con sông lớn, chiếm 62 thành phố, đáng 300 trận và bước vào những vùng mà không một quân đội Trung Quốc nào đặt chân đến đó từ nhiều thế hệ qua.

Vạn lý Trường Chinh
Vũ khí, đạn dược, lương thực, quần áo, máy móc – và toàn bộ hồ sơ lưu trữ của Đảng: tất cả mọi thứ đấy đều phải được mang theo vào lúc ban đầu của cuộc Trườn Chinh. Nhưng rồi phu khuân vác đào ngũ, ngựa thồ chết dần. Chẳng bao lâu sau đấy, những người lính đói ăn. Hàng ngàn người trong số họ chết vì kiệt quệ, lạnh giá và nhiễm bệnh. Ảnh: GEO EPOCHE

Những ai đương đầu với tất cả những nguy hiểm đó, người đấy bị hành hạ bởi chứng vàng da, sốt, đói. Và trong mười người chỉ có một người đến được đích.

Những người sống sót sau này góp phần của họ vào trong một thiên anh hùng ca mà vẫn còn có ảnh hưởng cho đến ngày hôm nay: một truyện kể về những người anh hùng và những kẻ đê tiện, thảm họa và chiến thắng, người thắng và kẻ thua – cả trong hàng ngũ của chính họ.

Chỉ một người trong số họ sẽ chiến thắng vào lúc cuối: Mao Trạch Đông.

Trong khi đấy thì vào lúc bắt đầu cuộc hành quân ông ấy là người yếu nhất trong tất cả các đối thủ.

VÀO NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 1934, KHI MAO bước ra khỏi nhà của ông ấy trong thành phố Vu Đô, gương mặt của ông ấy nhợt nhạt, cơ thể gầy ốm. Trong những tháng trước đó, ông bị sốt rét, ông vẫn còn cảm nhận được căn bệnh đó.

Nhưng nếu bây giờ không khởi hành thì ông có nguy cơ rơi vào tay kẻ thù đáng sợ nhất của ông ấy: Tưởng Giới Thạch. Thêm vào đó, ông sẽ mất liên lạc với nhóm dẫn đầu đã ra đi.

Từ tre, dây thừng và một mảnh vải bạt, ông tự tạo cho mình một cái cáng, phòng trường hợp ngất xỉu dọc đường. Một trong những người cận vệ sau này sẽ nhớ lại rằng Mao chỉ mang theo hai tấm chăn, một khăn trải giường, một tấm vải dầu, một cái áo choàng, một cái ô đã hỏng và một bó sách. Người vợ đang mang thai, Hạ Tử Trân, đã đi trước. Mao để đứa con trai hai tuổi tên Tiêu lại cho người em trai.

Từ nhiều ngày qua, các đơn vị của Hồng Quân đã kéo ngang qua thành phố nhỏ nhà trong Xô viết Giang Tây – vùng đất tròn 50.000 kilômét vuông ở miền Đông Nam Trung Quốc do người Cộng sản thống trị từ 1929.

Nhưng không chỉ có quân nhân là đang trên đường đi: hơn 5000 phu khuân vác mang theo gạo, vũ khí, thiết bị kỹ thuật và thuốc men, hồ sơ lưu trữ của Đảng, máy in và máy may. Thêm vào đó là hậu cảnh của nhà hát tuyên truyền, một máy chiếu X-quang đã được tháo rời ra, một thư viện cũng như kho báu quốc gia: hàng tấn vàng và bạc.

Nhân viên hành chính của Xô viết, cán bộ, nhân viên của Ngân hàng Nhà nước – tất cả họ đã nhận chỉ thị hãy sẵn sàng lên đường trong vòng vài ngày.

Vì giới lãnh đạo chắc chắn một điều: người Cộng sản sẽ không thể nào giữ được vùng đất của mình lâu hơn nữa trước quân đội của Tưởng Giới Thạch.

Bây giờ tất cả phải được tiến hành nhanh chóng. Nhiều người chỉ còn một vài ngày để chuẩn bị cho cuộc hành trình.

Binh lính của Hồng Quân tụ họp lại trên bãi cỏ cạnh bờ của một con sông gần Vu Đô. Nhóm người của đội tuyên truyền hát những bài ca cách mạng, dép rơm nhưng cả giày cũng được phân phát cho những người lính, quân phục và nón tre. Mỗi người nhận khẩu phần gạo cho hai tuần.

Nhà nước Xô viết, cái mà Mao 40 tuổi đã đấu tranh để có nó, bị giải tán. Ông nhìn lỗi lầm cho việc này ở ba người đã hất ông ra khỏi quyền lực.

BA NĂM TRƯỚC ĐÓ, Mao, nguyên thủ của nước Cộng hòa Xô viết Trung hoa vừa mới được thành lập, còn có thể cảm nhận mình như là người cầm quyền độc nhất. Vì trong một loạt các lãnh thổ do người Cộng sản kiểm soát ở nhiều miền đất Trung Quốc thì vùng do ông lãnh đạo trong tỉnh Giang Tây là vùng lớn nhất và quan trọng nhất. Việc ông đứng dưới quyền của Trung ương Đảng ở Thượng Hải hầu như không mang ý nghĩa gì: khi có một mệnh lệnh nào đến mà ông không đồng ý với nó thì ông cứ phớt lờ nó càng lâu càng tốt.

Cùng với thủ lĩnh quân đội Chu Đức to khỏe của mình, Mao có uy tín rất lớn trong giới nông dân và nắm chặt lấy vùng Giang Tây trong tay mình. Ông đã xây dựng nhà nước Xô viết đó. Bằng khủng bố, bạo lực nhưng cũng cả bằng sức thu hút của mình, ông nắm giữ lấy quốc gia Cộng sản nhỏ bé đó.

Đội Hồng Quân của Mao Trạch Đông tiến hành một cuộc chiến tranh phòng thủ không khoan nhượng chống lại quân đội Tưởng Giới Thạch. Và thỉnh thoảng cũng chiến thắng: Mao dẫn dụ quân lính của Tưởng Giới Thạch tiến sâu vào trong vùng Xô viết để phục kích tiêu diệt họ.

Thế nhưng giới lãnh đạo Đảng ở Thượng Hải đòi hỏi nhiều hơn nữa. Quân đội Cộng sản cuối cùng cũng phải tấn công các thành phố lớn, để thúc đẩy cuộc cách mạng ở đó. Mao cố xoa dịu. Ông biết quân đội của mình yếu đến đâu. Chiến thuật của ông là chỉ tấn công kẻ địch ở nơi có thể gây tổn thương cho nó.

Nhưng chẳng bao lâu sau đó, ông phải đặt mình dưới một người đến Giang Tây vào cuối năm 1931: thành viên Bộ Chính trị Chu Ân Lai 33 tuổi.

Người con của một gia đình viên chức có học là hình ảnh trái ngược lại của Mao: ông ấy đã sống ở Paris và Berlin, được cho là một người theo Chủ nghĩa Thế giới. Khiếu tổ chức của ông ấy, và tài không gây thù kết oán với bất cứ người nào, được đánh giá cao trong ĐCS. Chính bản thân Chu lại tuân theo tất cả các chỉ thị hết sức nghiêm ngặt.

Khác với Mao, ông không bao giờ biểu lộ tham vọng giật lấy quyền lực cao nhất. Ông ấy là người thứ nhì toàn hảo – chỉ là ông ấy chưa tìm thấy được người thứ nhất của mình.

Chu ở trong vùng Xô viết càng lâu thì lại càng có thiện cảm với Mao và chiến lược của ông ấy. Nhưng ông ấy quá là cán bộ để mà công khai chống lại ý muốn của giới lãnh đạo.

Trong một hội nghị vào tháng 10 năm 1932, giới này muốn bắt buộc người đứng đầu chính phủ bướng bỉnh kia phải tuân lời. Đại diện của họ khiển trách Mao là “biếng nhác”, lúc nào cũng chờ đợi kẻ địch tấn công. Thêm vào đó, họ buộc tội ông không tôn trọng Trung ương ở Thượng Hải. Những người đồng chí cũng phê bình Chu Ân Lai – người này để cho Mao bị đẩy ra khỏi ban lãnh đạo quân đội của Cộng hòa Xô viết.

Tháng 1 năm 1932, toàn bộ giới lãnh đạo ĐCS chạy trốn về Giang Tây: tổ chức Đảng ở Thượng Hải và trong các thành phố khác sụp đổ, cán bộ bị lộ, bị bắt, bị hành quyết.

Những người mới đến chẳng coi Mao, người tự xưng là lãnh tụ của nông dân, ra gì. Ông và người bạn chiến đấu Chu Ân Lai của ông ấy, người ta cho rằng họ đã châm chọc như thế, chẳng khác gì những tên cướp được ca ngợi. Mao phải giao lại chức vụ đứng đầu chính phủ, ông chỉ còn lại danh hiệu “Chủ tịch Ủy ban Điều hành trung ương của Cộng hòa Xô viết Trung Hoa” – nhưng không còn có quyền lực thật sự gắn liền với nó nữa.

Bây giờ, bên cạnh Chu Ân Lai, thống trị trong Thụy Kim, thủ đô của Cộng hòa Xô viết, là bí thư Đảng Bác Cổ.

Bác Cổ, một con người trẻ 26 tuổi, hơi vụng về, là học trò Stalin gương mẫu. Ông có chức vụ đấy là nhờ vào sự tận tâm với Quốc tế Cộng sản – tổ chức do Liên bang Xô viết chiếm thế thống trị, cái có nhiệm vụ điều khiển các đảng Cộng sản trong các nước khác.

Cũng như nhiều cán bộ Trung Quốc, ông ấy đã học ở Moscow; ông ấy biết các học thuyết của Marx và Lenin, nhưng ông hầu như chẳng hiểu gì về chiến lược quân sự cả.

Vì thế mà Bác Cổ tin vào một cố vấn quân sự do Quốc tế Cộng sản gửi đến, người Cộng sản Đức Otto Braun 34 tuổi, người mà ông ấy trên thực tế đã đưa lên làm chỉ huy Hồng Quân – bên cạnh Chu Ân Lai.

Với chiều cao 1,80 mét, Braun hầu như cao hơn tất cả mọi người ở Giang Tây. Mặc dù ông có thanh thế rất lớn do là người của Moscow gửi sang, nhưng con người quê ở Thượng Bayern là một người ngoài cuộc: ông không nói được một từ của thổ ngữ tiếng Trung địa phương, sống trong một căn nhà cô lập giữa những cánh đồng lúa.

Ông dựa trên những chiến dịch hành quân cổ điển như đã học được tại Học viện Quân sự ở Moscow, với những hoạt động được điều phối chặt chẽ và kỷ luật tuyệt đối của từng người một. Thế nhưng trong mùa Xuân 1934, Hồng Quân dưới sự lãnh đạo của Bác Cổ và Braun đã chịu nhiều chiến bại đau đớn và mất những vùng đất rộng lớn.

Nhiều người – trước hết là Mao – đã nhanh chóng tìm thấy kẻ có lỗi cho thảm họa đấy: người Đức kiêu căng đấy, không có khả năng thích hợp với các tình thế ở địa phương.

Thật sự thì các tổn thất đó bắt nguồn từ một chiến lược mới của Tưởng Giới Thạch: thay vì tiếp tục trực tiếp tấn công lãnh thổ Xô viết, ông siết vòng vây ngày một chặt lại. Chúng hình thành từ hàng nghìn lô cốt nhỏ bằng bê tông với tường dầy cho tới sáu mét mà trong đó một phần có đủ chỗ ẩn nấp cho cả một tiểu đoàn.

Trước kia, Hồng Quân có thể dẫn dụ những người tấn công vào các nơi đã phục kích sẵn. Thế nhưng bây giờ mặt trận cứ nhích dần lên mà không chận lại được. Quân đội Tưởng yểm trợ những cuộc tiến công của họ bằng hỏa lực pháo bin từ trong các lô cốt, và họ rút lui ngay lập tức vào trong sự bảo vệ của chúng khi Hồng Quân tấn công.

Trong mùa hè năm 1934, Xô viết Giang Tây đã teo lại còn khoảng phân nửa của vùng đất ban đầu. Chu Ân Lai, Bác Cổ và Otto Braun bây giờ không còn nhìn thấy giải pháp nào khác hơn là tháo chạy. Có lẽ ba người này đưa ra quyết định một mình. Mao chỉ được báo cho biết. Toàn thể bộ máy phải đi theo, cái cần thiết để nhanh chóng xây dựng một nhà nước ở nơi khác: hành chính, ngân hàng nhà nước kể cả máy in tiền, báo Đảng, cơ xưởng và nhà máy sản xuất đạn – tất cả các thiết bị không dễ dàng thay thế được.

Tất cả đều diễn ra trong vòng bí mật nghiêm ngặt; mỗi một người chỉ biết những gì chính mình cần phải làm.

Những ai không nhất thiết được cần đến đều phải ở lại: trẻ con, hầu hết phụ nữ, người già, cán bộ làng và khoảng 20.000 người bị thương. Cũng như tròn 10.000 người lính có nhiệm vụ đóng giả sự hiện diện của một đạo quân ở mặt trận. Tất cả họ đều bị phó mặc cho sự trả thù của Quốc Dân Đảng.

80.000 người kia phải phá vỡ các vòng vây và thành lập một căn cứ mới ở đâu đó – có thể là cùng với các đạo quân Cộng sản khác cũng đã tháo chạy khỏi các căn cứ của họ.

Một kế hoạch điên rồ. Vì đoàn người kéo dài ra đến tròn 30 kilômét. Nhiều người phu phải khuân vác quá nặng, những người mang vác nặng nhất hầu như không thể đi hơn 20 kilômét trong một ngày.

Khi cuối cùng rồi Mao cũng lên đường vào ngày 18 tháng 10 thì nhóm tiên phong đã đi trước từ nhiều ngày. Trong ánh hoàng hôn, ông đến một được một trong năm chiếc cầu phao mà công binh đã xây dựng một phần từ tre và cánh cửa. Ông vượt con sông đang lặng lẽ chảy đi. Và chờ cho đến giờ của mình.

(Còn tiếp)

Ulrike Rückert

Phan Ba dịch

Advertisements

16 thoughts on “Cuộc chạy trốn qua núi (phần 1)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s