Điều kỳ diệu kinh tế lần thứ nhất

Phan Ba dịch

Trước đây hơn một thế kỷ, những tập đoàn như Siemens, AEG, Bayer, BASF hay Bosch đã tạo cơ sở cho thành tựu lớn lao của nền kinh tế Đức. Họ đặc biệt dựa vào mối liên kết mật thiết với khoa học. Nước Đức vẫn còn dựa vào đấy cho đến ngày nay.

Thời đó, các nhà máy như Siemens hay AEG, Bosch, BASF hay Bayer đã phát triển trở thành những doanh nghiệp kinh doanh trên toàn thế giới. Chỉ trong vòng vài năm ngắn ngủi, những xưởng sản xuất đã phát triển trở thành tập đoàn quốc tế. Họ đã tạo nền tảng cho cái vẫn là thế mạnh của nền kinh tế Đức ngày nay. Chế tạo máy và kỹ thuật điện, công nghiệp hóa và chế tạo ô tô: Những ngành nở rộ trong thế kỷ 19 vẫn còn tạo dấu ấn cho nước Đức trong thế kỷ 21. Đất nước này vẫn còn hưởng lợi từ thế mạnh của ngày đó: sức mạnh đổi mới, chất lượng và tính đáng tin cậy.

Tranh vẽ một xưởng chế tạo lò áp suất của Josef Huber Feldkirch năm 1891. Ảnh: AKG.
Tranh vẽ một xưởng chế tạo lò áp suất của Josef Huber Feldkirch năm 1891. Ảnh: AKG.

Những ống bằng thép cho đường ống dẫn dầu đầu tiên trong Caucasus – của Mannesmann. Chất tổng hợp indigo được các nhà máy trên toàn thế giới dùng để nhuộm quần áo – từ BASF. Tàu điện ở Bắc Kinh và hệ thống chiếu sáng cảng tại Thượng Hải – của Siemens. Các doanh nghiệp Đức cung cấp những gì mà thế giới cần đến. Và niềm tự tin của họ cũng tăng cùng với thành tựu kinh tế. Mục tiêu của “kinh doanh quốc tế”, theo như nhà kỹ sư Werner von Siemens,  là mang lại quyền lực và danh tiếng, không những cho ông mà còn cho thế hệ mai sau.

Trong hai “thập niên vàng” trước năm 1914, nước Đức đế chế trải qua một thời phát triển cực thịnh, từ một nước tụt hậu trong châu Âu trở thành quốc gia công nghiệp hàng đầu, vượt qua được cả nước Anh, cho đến thời điểm đó là “công xưởng của thế giới”.

Nước Đức trải qua lần “kỳ diệu về kinh tế đầu tiên”, như sử gia Hans-Ulrich Wehler nhận định, và xuất khẩu là động lực chính. Thời đó, Đế chế Đức, vừa được tuyên bố thành lập năm 1871, không phải là nước cởi mở, vẫn còn mang đậm tinh thần của chủ nghĩa quốc gia. Tại sao nước Đức lại chính là nước thành công trong làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên?

Có thể tìm được một câu trả lời ở thành phố Jena, ngay sau cửa vào Viện bảo tàng quang học trong Phòng Ernst Abbe. Ở đó, nằm trong một chiếc tủ kính là một kính hiển vi bằng đồng thau. Chế tạo năm 1873. Hiện vật này thuộc trong số những kính hiển vi đầu tiên được chế tạo theo các tính toán chính xác của ông Ernst Abbe, thời đấy là giáo sư vật lý tại trường Đại học Jena.

Doanh nghiệp trẻ Carl Zeiss đã mời nhà khoa học vào xưởng chế tạo quang học; ông không thể tiếp tục với phương pháp thử nghiệm và sai lầm truyền thống nữa, như Carl Zeiss khẳng định. Chỉ với lý thuyết của Abbe, quá trình sản xuất mới được cách mạng hóa. Công nhân giờ đây có thể chế tạo kính hiển vi với số lượng lớn theo sơ đồ hướng dẫn chính xác: Một công nghiệp thành hình từ nghề thủ công.

Ông Carl Zeiss chỉ còn thiếu thủy tinh thích hợp cho sản xuất hằng loạt: Nó phải có độ tinh khiết cao, độ dầy đều đặn, không bị méo mó ngay ở rìa. Thông qua giới thiệu của Abbe, Carl Zeiss tiếp xúc với nhà tiến sĩ hóa học và là chuyên gia về thủy tinh Otto Schott từ Witten, mời ông Schott về Jena.

Carl Zeiss, Ernst Abbe và Otto Schott đã tạo nên danh tiếng cho Jena, nhanh chóng lan truyền ra khỏi biên giới của đế chế. Ngay từ năm 1879 Carl Zeiss đã bán nửa số kính hiển vi của ông ra nước ngoài. Người con trai của ông, Roderich, tự hào viết thư cho họ hàng: “Kinh doanh của chúng tôi đã có tầm quan trọng trên toàn thế giới văn minh.”

Ngày nay, tỷ lệ xuất khẩu của tập đoàn Carl Zeiss chiếm trên 80% và sự trao đổi với khoa học vẫn được tiếp tục tăng cường. Ở thành phố Jena đã thành hình một “Optical Valley”, một mạng lưới của những cơ sở nghiên cứu và nhà máy công nghiệp. Ngay bên cạnh trụ sở chính của Carl Zeiss là trường đại học thực hành, và doanh nghiệp tuyển chọn một phần năng lực trẻ từ đây. Vào giờ trưa, sinh viên và nhân viên dùng bửa trong cùng một nhà ăn.

Mối liên kết mật thiết giữa nghiên cứu khoa học và áp dụng trong kinh tế: Xưa nay, bí mật thành công của nhiều doanh nghiệp Đức ẩn nấp phía sau sự kết hợp này. Đó cũng là đặc tính cho các “công nghiệp mới”, theo sử gia Dieter Ziegler. Chúng có ưu điểm là lần đầu tiên sự phát triển được đẩy mạnh nhờ sử dụng nghiên cứu khoa học có mục đích nhất định. 

Nhưng điều đó chỉ thành công bởi vì các doanh nghiệp có được một đội ngũ nhân viên có trình độ cao. Đế chế Đức đã đầu tư cho đào tạo rất nhiều. Ngân sách cho trường học và đại học tăng trên thực tế từ năm 1861 đến 1913 từ gần 100 triệu Mark lên đến gần 1,4 tỉ Mark. Con số sinh viên trong nước Đức tăng gấp 4 lần, lên gần đến 80.000. “Thành tựu lớn của các doanh nghiệp Đức”, theo ông Ziegler, “cũng xuất phát từ việc đào tạo kỹ thuật và khoa học cho công nhân chuyên nghiệp và kỹ sư rất tốt.”

Carl Benz năm 1894 trên chiếc ô tô do ông chế tạo. Ảnh: DPA
Carl Benz năm 1894 trên chiếc ô tô do ông chế tạo. Ảnh: DPA

Tiếng Đức trở thành ngôn ngữ của những học giả, các giáo sư Đức có tiếng tăm trên toàn thế giới. Trong những năm đầu tiên của thế kỷ 20, 6 người Đức đã nhận Giải Nobel về hóa học và 5 người nhận Giải Nobel về vật lý. 

Ngày đấy, các trường đại học thực hành (Fachhochschule) và đại học kỹ thuật mang định hướng thực tiển bắt đầu phát triển từ các trường bách khoa phổ thông. Lúc đầu, những trường này bị gọi một cách mỉa mai là “học viện cho thợ ống nước” và phải đấu tranh cho đến khi được những trường đại học “chính thống” nhìn nhận. Các trường đại học mới nhanh chóng đạt nhiều tiếng tăm vì những kỹ sư tốt nghiệp từ đó đáp ứng được những yêu cầu của kỷ nguyên công nghiệp. 

Giới trẻ từ khắp nơi trên thế giới đổ vào nước Đức, thí dụ như trường Đại học kỹ thuật Karlsruhe. Năm 1860, trong số 781 sinh viên ở đó đã có 144 người đến từ nước ngoài. Đặc biệt là khoa chế tạo máy đã hấp dẫn rất nhiều sinh viên và đã trở thành một lò đào tạo chủ doanh nghiệp tương lai. 

Nhiều giáo sư giảng dạy cũng bước ra kinh doanh tự lập. Thí dụ như ông Carl von Linde, giáo sư Trường bách khoa München (sau này là Đại học kỹ thuật München). Tập đoàn Linde ngày nay là một trong những tập đoàn hàng đầu trong ngành khí công nghiệp và chế tạo máy. 

Các doanh nghiệp Đức cũng đi trước một bước về mặt tổ chức. Một vài doanh nghiệp ngay từ đầu đã hướng đến việc kiểm soát toàn bộ dây chuyền sản xuất: từ khai thác nguyên liệu cho đến tiêu thụ sản phẩm. Qua đó họ tiết kiệm được chi phí và đến gần khách hàng hơn. Một số doanh nghiệp khác thiết lập văn phòng đại diện ở nước ngoài. 

Siemens là một thí dụ điển hình. Doanh nghiệp đã xây dựng cả một mạng lưới văn phòng đại diện, có mặt tại tất cả  các thành phố quan trọng nhất của Trung Quốc. “Thành tựu của công ty”, theo sử gia Jürgen Kocka, “một phần là từ cấu trúc đa quốc gia của họ.” 

Con số những doanh nghiệp lớn, tức là những công ty có trên 1000 nhân viên, tăng lên gấp 3 lần cho đến năm 1914. Sự mở rộng ra quốc tế của họ chỉ có thể thành công nhờ các ngân hàng mới thành lập cung ứng đủ vốn. Ba ngân hàng Đức, Deutsche Bank, Commerzbank và Dresdner Bank, đã cung cấp tài chính cho các doanh nghiệp, đặc biệt là cho ngoại thương – và đồng thời qua đó cũng tự vươn lên đến đẳng cấp thế giới. 

Gần như không có một đất nước nào khác hưởng lợi về mặt kinh tế qua toàn cầu hóa như nước Đức – cho đến khi người Đức tự chấm dứt quá trình này năm 1914: Với Đệ nhất thế chiến người Đức đã tự phá hủy nguồn mang lại thịnh vượng quan trọng nhất của họ. 

Ngay trước chiến tranh, xuất khẩu của Đức đã đạt đến một đỉnh cao mới, ngoại thương chiếm 34% thu nhập quốc dân. Phải đến nửa thế kỷ sau đó nước Đức mới đạt lại được con số này.   

 Phan Ba dịch theo Spiegel special 5/2008

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s