Những thành phố khổng lồ mới

Phan Ba dịch

Chưa từng bao giờ lại có nhiều người sống trong thành phố như ngày nay. Những siêu thành phố có đến 36 triệu dân cư đang biến đổi toàn bộ cuộc sống đô thị và môi trường.

Siêu thành phố là một hiện tượng tương đối mới trong lịch sử của loài người. Trước đây 30 năm chỉ có 3 đô thị khổng lồ với hơn 10 triệu người: Mexico City, New York và Tokio. Ngày nay, tùy theo cách tính toán, có ít nhất 20 đến 25 thành phố thuộc thể loại hơn 10 triệu. Chỉ còn 4 thành phố trong số đó nằm trong các quốc gia công nghiệp cổ điển: ngoài New York và Tokio – với dân số gần 36 triệu là thành phố lớn nhất thế giới – là Los Angeles và Osaka-Kobe-Kyoto.

Phần lớn những thành phố khổng lồ này, những thành phố như Jakarta, thủ đô của một nước đang phát triển, không còn có thể đáp ứng những yêu cầu của cuộc bùng nổ dân số nữa – cung cấp điện nước, tiêu hủy rác và ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông hằng ngày. Nhiều vấn đề đang bùng nổ.

Thí dụ như Jakarta, đang mở rộng ra như một con bạch tuột khổng lồ, ngày càng tiến sát đến biển hơn và ngày càng chật chội hơn. Nhiều khu dân cư đã đẩy lùi những cánh đầm lầy rừng đước và bãi biển. Những tháp cao tầng cứ ngày càng cao thêm, gần như mỗi một mét vuông đều đã bị lát gạch đá.

Nền đất ẩm ướt lún xuống dưới sức đè nặng. Năm 2025, Jakarta sẽ lún xuống ít nhất là 40 đến 60 cm, theo các chuyên gia của Ngân hàng thế giới tiên đoán. Ngay hiện nay, 40% của thành phố đã thấp hơn mực nước biển hơn 1 m.

Mặc dù vậy, người ta vẫn tiếp tục xây dựng. Sự phát triển thành phố ngày càng không kiểm soát được, bà Uras Siahaan, nữ giáo sư về kế hoạch đô thị tại Đại học Kitô giáo, phê bình. Chính Jakarta, theo ý muốn của những nhà lãnh đạo, lại phải trở thành một “thành phố cạnh biển”: Bờ biển dài 35 km sẽ trở thành một thành phố cảng duy nhất – bỏ qua tất cả các cảnh báo.

Đã từ lâu, không thể không nhìn thấy các tín hiệu SOS. Nhiều khu phố không được kết nối với hệ thống nước uống, gần phân nửa dân cư không có nước máy để sử dụng, phần còn lại thường không được cung cấp nước đầy đủ vì đường ống rò rỉ. Hiện nhiều người dân, khách sạn và nhà máy đang tự khoan giếng để dùng nước ngầm.

Hậu quả: Mực nước ngầm ngày càng xuống thấp, và thành phố, được xây trên nền đất bùn lầy, cũng trượt theo. “Nếu không có biện pháp, nhiều phần của Jakarta sẽ lún xuống thêm 5 m cho đến năm 2025”, chuyên gia về nước ông Brinkman nói.

Lời cảnh báo của ông là tiếng kêu cứu trước bối cảnh của một phát triển đang diễn ra dần dần và ít được chú ý nhưng lại đang thay đổi cả nền tảng của thế giới: Sự đô thị hóa nhiều vùng đất rộng lớn và những hậu quả không lường trước được của nó cho con người và môi trường.

Chỉ một số ít thị trưởng của những siêu thành phố đang ngày một to lớn thêm là đặt tầm ngắm rõ rệt vào các thách thức này như ông Oh Se Hoon. “Chúng ta phải tìm lại một cân bằng”, người thị trưởng của siêu thành phố Seoul 22 triệu dân nói. Thành phố phải trở thành một “không gian hài hòa” cho con người, thiên nhiên và kinh tế.

Cho đến nay, quá trình đô thị hóa diễn ra phần lớn là không được kiểm soát. Dân cư thành phố, theo thông tin của UNO, tăng thêm mỗi ngày có đến 300.000 người. Lần đầu tiên trong lịch sử, có nhiều người sống trong thành phố hơn là nông thôn. Năm 1950, chỉ có 29% dân số thế giới là dân cư thành phố. Ngày nay là hơn phân nửa của 6,5 tỉ. Và trong vòng 25 năm tới đây, theo nhiều ước tính, gần 2/3 dân số của Trái Đất sẽ sống trong thành phố.

Những thành phố khổng lồ đã là biểu tượng cho bùng nổ và tầm quan trọng về kinh tế cũng như chính trị. Vào khoảng năm 1900 London với dân số trên 6 triệu được xem là thành phố lớn nhất và cũng là thành phố quan trọng nhất của thế giới. Tròn 50 năm sau đó là New York với 12 triệu; tiếp theo đó là Tokio, trên thực tế đã nuốt chửng hai láng giềng của nó là Yokohama và Kawasaki.

Ngày nay, sự phát triển nhanh chóng này đang diễn ra tại châu Á và trong thế giới thứ ba. Lagos là một thí dụ. Thành phố cảng của Nigeria chỉ có 126.000 người dân năm 1931. Sống ở đây hiện nay ít nhất là 10 triệu, theo nhiều ước đoán khác là 15 triệu người, và chỉ trong vòng 7 năm tới đây theo tính toán của nhiều chuyên gia, thành phố này với dân số 25 triệu sẽ thuộc trong số những thành phố lớn nhất của thế giới. Lagos rộng đến mức có đủ chỗ cho cả thiên đàng và địa ngục theo một thành ngữ địa phương.

Trước đây tròn 100 năm, chỉ có khoảng 200.000 người sống trong thành phố São Paulo của Brasil. Giữa thế kỷ vừa qua São Paulo trở thành một thành phố lớn bình thường với trên 2 triệu người, ngày nay đô thị này với tròn 19 triệu người thuộc trong số các siêu thành phố hỗn loạn nhất.

Mặc dù vậy, các siêu thành phố, có tên là Calcutta, Karachi, Cairo hay là gì đi chăng nữa, đã trở thành niềm hứa hẹn cho rất nhiều người, ông Wolfgang Nowak của Hội Alfred Herrhausen nói. Hội đã cùng với Deutsche Bank (Ngân hàng Đức) công bố một nghiên cứu sâu rộng về đề tài này – “The Endless City”. “Những thành phố này là chốn hy vọng cho hằng triệu người mà không một ai có thể ngăn cản được”, người nguyên là sếp quy hoạch của cựu thủ tướng Đức Gerhard Schröder nói.

Hằng triệu người rời bỏ nhà cửa làng mạc, chạy trốn nghèo đói khốn cùng, để “có thể tham gia vào sự sáng tạo giá trị thặng dư như thế nào đó”, như nhà nghiên cứu về đô thị hóa Indonesia, ông Suryadi Jo Santoso, chứng nhận. Đối với những người di trú hiện đại giữa các thế giới này, các thành phố khổng lồ là lời hứa hẹn cho thịnh vượng và phát triển.

Con số các siêu thành phố vì thế sẽ tiếp tục tăng, tất cả các chuyên gia đều thống nhất về việc này. Những thành phố lớn của châu Á như Bangalore, Hyderabad và Madras ở Ấn Độ, Lahore ở Pakistan, Hongkong, Bangkok, thêm vào đó là Johannesburg ở Nam Phi, thủ đô của Peru Lima hay Tây An và Thiên Tân trong Trung Quốc – những thành phố này sẽ tiếp tục mở rộng, đang trên đường trở thành siêu thành phố.

Tại châu Âu, nơi với Moscow (dân số 10,5 triệu người) và Istanbul (trên 10 triệu) có 2 siêu thành phố, London hay Paris đang sắp sửa trở thành siêu thành phố, ở Mỹ là Chicago, Philadelphia hay Dallas.

Chẳng bao lâu nữa, các nhà quy hoạch, chính khách và chuyên gia di dân sẽ phải đối mặt với những tột bậc hoàn toàn khác. Thí dụ như tại Mỹ, Waschington, New York và Boston sẽ ít nhiều hòa nhập tạo thành một đơn vị duy nhất: Siêu thành phố “Boswash” rồi sẽ có 50 triệu dân cư. Và “trong tương lai gần”, Bộ đào tạo và nghiên cứu Berlin dự đoán sẽ có những “vùng đô thị mêga” với 100 triệu người. Thí dụ như ở Trung Quốc, nơi Thượng Hải, Nam Kinh và Hàng Châu sẽ xích lại gần nhau. Và Bắc Kinh sẽ hòa nhập cùng với Thiên Tân và Đường Sơn.

Chỉ có điều là: Tất cả những cái đó có thật sự là tồi tệ hay không? Xu hướng đô thị hóa đã thuộc vào sự phát triển của loài người chậm nhất là bắt đầu từ thế kỷ thứ 1. Ngay từ thủa đó nhiều văn kiện đã ghi chép lại rằng Rom là nơi cư ngụ của ít nhất là 750.000 người và qua đó đã phá vỡ tất cả những khuông khổ tưởng tượng của thời đó. Thành phố cạnh sông Tiber này chắc hẳn đã trở thành thành phố triệu dân đầu tiên của thế giới. Tiếp theo sau đó là thành phố Tây An của các hoàng đế Trung Hoa, lần đầu tiên trong thế kỷ thứ 7 với 1 triệu dân cư được cho là đô thị lớn nhất thế giới.

Những thành phố khổng lồ như thế có phải đồng thời tạo một cơ hội khổng lồ cho hàng hóa và kiến thức hay không? Một nơi tập trung tri thức, tài nguyên và sức lao động – và vì thế là động cơ cho nền kinh tế? Siêu thành phố với sự đa dạng về cơ sở hạ tầng công cộng – trường học, đại học, bệnh viện, sân vận động hay nhà hát – có phải là tiền đề tốt nhất cho công bằng cơ hội, cho sự tham gia vào tập thể và xã hội? Và những thành phố này với sự tập trung những khả năng và tài năng có phải đồng thời cũng là nền tảng cho thịnh vượng và phát triển không chỉ riêng cho thành phố hay không?

Từ 10 đến 15% dân số cả nước sống trong São Paolo hay Bangkok. Nhưng những thành phố này, theo tính toán của UNO, tạo nên hơn 40% tổng sản phẩm quốc nội. 40% tiền thuế của toàn Ấn Độ là từ Mumbai.

Và sự thật là các tập đoàn đa quốc gia thích đặt trụ sở chính ở những nơi mà họ có thể tìm được hạ tầng cơ sở tốt cũng như dư thừa lao động chuyên môn và giới trẻ kế thừa – tức là ở nơi mà nhiều người được đào tạo tốt đang sống chung. Trong số tròn 500 tập đoàn đứng hàng đầu trên thế giới có tròn 80 doanh nghiệp đặt trụ sở chính tại Tokio. Hằng chục doanh nghiệp có địa chỉ chính tạiNew York, Paria hayLondon.

Nhưng mặc dù vậy: Đô thị hóa tuy là tiền đề cho sự phát triển. Nhưng nó không bảo đảm cho phát triển. Đặc biệt là cho các siêu thành phố. Vì những vùng tập trung dân cư đồng nghĩa với thiếu thốn và nhiều vấn đề về tiếp vận – từ cung cấp năng lượng và nước uống qua hệ thống nước thải cho đến hạ tầng giao thông và ô nhiễm môi trường.

Đó là một nghịch lý: Thành phố, nhất là thành phố lớn, có tất cả các khả năng để cung cấp cho con người những cái cần thiết nhất cho cuộc sống, như ông Lars Reuterswärd, lãnh đạo chương trình định cư HABITAT của UNO, khẳng định. Nhưng song song với việc đô thị hóa thế giới, sự nghèo khó cũng lan rộng một cách đáng sợ.

Theo thống kê của UNO, tròn 1 tỉ người sống trong các khu nhà ổ chuột ở khắp nơi trên thế giới. Nghèo khó trong thành phố là “mặt tối” của quá trình đô thị hóa đang diễn ra một cách nhanh chóng, Edward Soja và Miguel Kanai từ Londoner School of Economics nói.

Dharavi là một khu ổ chuột như vậy. Khu phố trong Mumbai được xem là một trong những khu phố nghèo lớn nhất của châu Á. Trên 1 triệu người sống ở đây, bị kẹp giữa 2 tuyến đường sắt quan trọng nhất. Những căn nhà ọp ẹp hoặc là không có gì để chống lại ánh nắng Mặt Trời gay gắt hoặc là gần nhau đến mức không một tia sáng ban ngày có thể lọt vào bên trong. Trẻ em chơi đùa giữa những đống rác cao như núi và những vũng nước thải đen ngòm tỏa mùi hôi thối, trường học và nhà trẻ thường rất xa vời.

Hiện đang có kế hoạch để thúc đẩy các nhà đầu tư. Nhưng Dharavi chỉ là 1 trong số khoảng 150 khu nhà ổ chuột trong Mumbai. Hơn 7 triệu người trong thành phố này với dân sốvào khoảng 19 triệu người đang sống trong các khu nhà ổ chuột, tròn 2 triệu người sống trên đường phố.

Chưa từng có nhiều người trong thành phố như vậy, tất nhiên. Nhưng cũng chưa từng có nhiều người phải sống trong các khu nhà ổ chuột như ngày nay. Chẳng bao lâu nữa sẽ là 1,5 tỉ người. Nhà xã hội học người Mỹ và cũng là chuyên gia đô thị hóa Mike Davis đã cảnh báo một “hành tinh của những khu nhà ổ chuột”.

Nó là mặt trái đáng buồn của sức hấp dẫn từ những trung tâm đông dân cư, đặc biệt là trong những nước đang phát triển. Chúng là nam châm thu hút những người sáng tạo và hiện đại hóa nhưng cũng là trạm cuối cho những người đang gặp khó khăn hay sa ngã, cho những nạn nhân đủ loại của sự hiện đại hóa.

Nó giống như sự tái bản của những dòng người di cư thời Trung cổ, khi nông dân và những người tôi tớ trốn chạy vào thành phố, chỉ với kết quả khác với ngày đấy. “Không khí thành phố mang lại tự do” là câu khẩu hiệu của thời đó.

Không khí thành phố mang lại bệnh tật, đó là sự thật đắng cay của ngày hôm nay tại nhiều nơi.

Jakarta, thủ đô của Indonesia, theo thống kê quốc tế  thuộc trong 5 thành phố có không khí bị ô nhiễm nhiều nhất. Sương khói làm tối cả Mặt Trời, bụi và khói xe gây hại cho đường hô hấp và môi trường. Chỉ Mexico City cũng như một vài trung tâm công nghiệp ở Trung Quốc là bị ô nhiễm còn hơn thế nữa.

Có đến 4 triệu xe cơ giới di chuyển hằng ngày trên những con đường có đến 12 làn xe xuyên qua thành phố, nhiều tính toán khác đi đến con số trên 6 triệu. Giao thông chỉ ngưng lại khi xe buýt, ô tô đứng yên vì kẹt xe. Và điều này thường hay xảy ra.

“Tôi kẹt xe bắt đầu từ ngay trước cửa nhà”, nữ giảng sư đại học Urus Siahaan nói. Mỗi ngày bà mất 1 tiếng đồng hồ cho đoạn đường vài km từ nhà đến trường đại học. Bà sống trong khu phố Bintaro trong vùng tây nam của thành phố, cách xa những mạch máu giao thông chính của thành phố đang sôi sục như một lò hơi dưới áp suất cao.

Chính phủ và cơ quan hành chính thành phố đã “không suy nghĩ đến tận cùng” cho sự phát triển của thành phố, nhà nữ quy hoạch giàu kinh nghiệm nói. Tàu điện đã bị hủy bỏ trong những năm của thập niên 1960, vì đường sắt gây phiền nhiễu cho những người lái ô tô và xe 3 bánh. Tàu điện ngầm và tàu điện trên mặt đất hiện đại, đã được thảo luận lâu nay, không tiến triển. Thiếu người đầu tư – nhưng không chỉ vậy. “Thiếu quyết tâm chính trị”, bà Siahaan phê bình.

Những siêu thành phố như Jakarta phát triển “giống như một khối u ác tính, không kiểm soát và gần nhưng không thể làm chủ được.” Ở đây, cũng như những nơi khác, người ta thiếu năng lực, khả năng và vốn để điều khiển sự phát triển đang tràn qua bờ đê. Gần như chẳng có tác dụng gì khi các nhà quy hoạch giao thông Jakarta cố gắng làm cho giao thông được thông suốt với một vài con đường phải trả tiền, một vài làn dành riêng cho xe buýt hay cấm lưu thông tạm thời.

Hay trên một vài con đường, vào một số giờ nhất định, phải có ít nhất là 3 người trên một chiếc ô tô theo như quy định. Thế là nhiều người ăn xin chờ đợi ở cầu hay tại những điểm kiểm tra, chỉ cần nhận được vài đồng rupee là cho những người chủ ô tô chở đi một đoạn ngang qua. Chẳng ai vì thế mà không lái ô tô nữa.

“Chúng ta phải tái phát minh ra thành phố”, ông Nowak của Hội Herrhausen yêu cầu. Chỉ như thế, nó mới vẫn là một động lực thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế và người dân.

Ít nhất thì cũng có tính hiệu tốt cho việc này. Tại Seoul, cựu thị trưởng Lee Myung Bak là người đầu tiên nhận ra rằng siêu thành phố này, với mật độ dân số cao nhất thế giới, không thể nào chỉ tiếp tục tăng trưởng – cao hơn, lớn hơn, xám xịt màu bê tông nhiều hơn. Cựu tổng giám đốc của gã khổng lồ công nghiệp Huyndai hối thúc phải có biện pháp giải quyết.

Ông Lee đảo lộn cả hệ thống xe buýt công cộng. Ông cho tổ chức lại, phân chi theo màu nhiều loại buýt tốc hành, buýt nhanh khác nhau, một phần chạy trên những làn dành riêng cho xe buýt, kết hợp với những tuyến xe buýt thông thường. Trên 60% người dân Seoul và vùng lân cận đều dùng tàu điện ngầm hay xe buýt để đi làm.

Ông Lee cho tạo nhiều diện tích xanh tại nơi là nút giao thông, hồi sinh lại một con suối nhỏ trong trung tâm thành phố, ngược lại những phản đối kịch liệt lúc ban đầu. Con sông Cheonggyecheon chảy xuyên qua khu phố cổ, đã bị đổ bê tông lấp đi năm 1961, được thay bằng một đường ô tô nhiều làn xe. Đoạn đường dài 6 km này chạy xuyên qua trái tim của Seoul.

Ngay sau khi nhậm chức năm 2002, ông Lee đã chi tròn 300 triệu euro để giật sập đoạn đường này trong thành phố, chuyển hướng giao thông và cho đào lộ thiên dòng sông dưới lòng đất. Từ tháng 10 năm 2005 con suối lại chảy rì rào trên đoạn đường dài gần 4 km qua trung tâm thành phố. Hằng ngàn người đến đây hằng ngày để đi dạo, chơi đùa và thư giãn.

Làn sóng xanh của ông Lee được người dân đồng tình. Với sự ủng hộ từ Seoul, ông trở thành tổng thống mới của Hàn Quốc. Người tiếp nhiệm chức vụ thị trưởng là một thành viên của phong trào bảo vệ môi trường lớn nhất của Seoul, một luật sư nổi tiếng.

Thị trưởng Oh Se Hoon đứng trong phòng họp của tòa thị chính, nhìn qua cửa sổ xuống trung tâm thành phố. Trước tòa thị chính đồ sộ được xây năm 1926 này là một bãi cỏ xanh rộng lớn, giống như một công viên hơn là một quảng trường, một ốc đảo ngay giữa giao thông sôi sục của Seoul.

Ông Oh đang kêu gọi một cuộc cách mạng xanh cho cả thành phố, dự định sẽ trả lại cho con sông Hán chảy xuyên qua thành phố những cánh đầm lầy ngập nước của nó. Hiện nay, dọc theo hai bên bờ sông Hán là đường ô tô từ 8 đến 10 làn xe. Chúng là những tuyến giao thông chính, thí dụ như kết nối với Cảng hàng không quốc tế Inchon. Đi bộ đến con sông này hiện giờ giống như một chuyến đi mạo hiểm: Nhiều hàng rào và lưới căng ngăn cách những con đường này với khu vực thành phố, như thể những người lái xe phải được bảo vệ trước người đi bộ. Chỉ tại một vài nơi nhất định và sau nhiều con đường vòng người ta mới đến được bờ sông qua đường hầm sâu hay từ cầu dành riêng cho người đi bộ.

Ông Oh, với nhiều nổ lực khổng lồ, muốn trả lại cho người dân con sông và hai bờ sông của nó, làm đẹp các khu phố gần bờ sông và “cải dáng thủ đô thành một thành phố cảng”. Đoạn đường cao tốc ở bờ bắc theo dự định sẽ được dẫn xuống hầm sâu dưới lòng đất. Việc kế hoạch này dường như không tưởng về mặt kỹ thuật và tài chính không làm cho ông Oh tức giận. “Nhiều thành viên hội đồng thành phố đã cười nhạo khi tôi cho hồi sinh lại công viên và những nơi ưu tiên cho người băng qua đường hay cho làm đường dành riêng cho người đi xe đạp”, ông Oh kể lại một cách thích thú. Bây giờ ông biết rằng người dân đang đứng sau lưng ông.

Với những công viên và đường đi bộ này, và đặc biệt là với “điều kỳ diệu của sông Hán” ông Oh muốn đặt thước đo mới cho phát triển thành phố  và muốn trưng bày Seoul như một “trung tâm cải tiến vì tương lai”. Nếu cuộc cách mạng này thành công, thủ đô của Hàn Quốc có thể sẽ trở thành gương mẫu sáng chói cho những siêu thành phố khác.

Phan Ba (theo Spiegel Special)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s