Tag Archives: Cách mạng Hoa Lài

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương Kết

TRIỂN VỌNG. TIẾP THEO LÀ GÌ?

Không ai đã có khả năng tiên đoán được cuộc Cách mạng Ả Rập. Sự việc vẫn còn đang tiến triển, nó sẽ không diễn ra một cách đồng nhất và sẽ có nhiều thất bại cũng như mâu thuẫn đi kèm theo. Kéo theo thất vọng, tương tự như ở Gruzia và Ukraina, nơi lần khởi đầu đầy hy vọng đã bị các chính trị gia bất tài làm cho tiêu tan. Thế giới Ả Rập mới đứng ở đầu của một biến đổi mang tính kỷ nguyên, cái sẽ còn có tác động nhiều năm và nhiều thập niên nữa và từ nước này sang nước khác sẽ diễn ra khác nhau. Nhưng có một điều, như đã được nhắc đến, ngay từ bây giờ đã thay đổi không thể nào đảo ngược lại được nữa: nhận thức. Ai ngồi trong một quán cà phê hay quán trà ở Cairo, đi vào chợ hay thăm viếng một nhà thờ đạo Hồi, ai nói chuyện với người dân và lắng nghe họ, người đấy sẽ cảm nhận trước hết là một điều – toàn bộ thành phố đang hít thở chính trị. Mỗi người đều có ý kiến của mình, mỗi người đều phát biểu ý kiến của mình, cả trong công khai nữa, từ chú bé tạp vụ cho tới nhà khoa học. Người Ai Cập, và không chỉ họ, đã mất đi sự sợ hãi của họ. Ai cũng bàn về chính trị, không ngưng nghỉ. Không phải lúc nào cũng ở mức độ cao nhất, nhưng điều đấy không mang tính quyết định. Sự tự do mới có được cũng có nghĩa là không cần phải mang mặt nạ nữa. Trước cuộc Cách mạng, ngay đến trẻ con cũng đã học cách không nói ra những gì chúng nghĩ. Bây giờ, kỷ nguyên của những người đàn ông già nua cầm quyền lực đang tiến đến gần sự kết thúc của nó. Không thể tưởng tượng được, cả nhiều thập niên nữa, rằng sẽ có thể còn có một tổng thống Ai Cập tự nhìn mình như một pharaoh và cầm quyền như một bạo chúa. Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 10

NGƯỜI HỒI GIÁO KẾT CUỘC

LÀ NGƯỜI CHIẾN THẮNG?

Không có gì bền vững hơn là sự biến đổi, nhà viết bi kịch người Ai Cập có lẽ là nổi tiếng nhất Tawfik al–Hakim (1898 – 1987) cũng biết điều đó. Cuộc Cách mạng Ả Rập không chỉ làm biến đổi chính trị và xã hội. Nó cũng có ảnh hưởng mang tính quyết định đến mối quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo, đạo Hồi và cai trị. Cũng như mối quan hệ đến tín ngưỡng. Sự cá nhân hóa trong các thành phố lớn Ả Rập diễn tiến càng nhiều, sự “công dân hóa” thay thế các cấu trúc và khuôn mẫu suy nghĩ càng nhiều, thì sự cộng hưởng với các cách đọc phi mê tín kinh Koran càng lớn, các lối sống càng tự do hơn. Quá trình này đã được thể hiện ở ví dụ của những nhà giảng đạo trên truyền hình và các ứng xử có định hướng life–style của thế hệ Facebook với đạo Hồi. Có một điều mà cuộc Cách mạng Ả Rập chắc chắn không là: một cuộc nổi dậy mang tính tôn giáo, một cuộc nổi loạn Hồi giáo. Hầu như không nhìn thấy hay đọc được những câu khẩu hiệu của người Hồi giáo. Các câu khẩu hiệu thường gặp nhất, “Kifaya!” (“Đủ rồi!”) hay “Irhal!” (“Cút đi!”) rõ ràng là phi tôn giáo. Những người anh hùng của cuộc cách mạng không phải là Hassan al–Banna, người thành lập Huynh Đệ Hồi giáo, hay người kế tục ông ấy Sayyid Qutb, nói chi đến Osama bin Laden. Các tấm gương cũng được chọn lựa một cách tự phát hơn, trong số đó là nhà điều hành Google người Ai Cập Wael Ghonim, người đã tường thuật lại trên Facebook về cái chết của một người dùng Internet trẻ tuổi trong tay của cảnh sát Alexandria và vì thế mà tí nữa thì đã bị cảnh sát mật của Mubarak tra tấn cho tới chết. Thời của những hệ tư tưởng lớn, có là Chủ nghĩa Dân tộc hay Chủ nghĩa Hồi giáo đi nữa, đã chấm dứt. Đồng thời, đạo Hồi chính trị cũng tự biến đổi mình, tách rời khỏi một đạo luật Hồi giáo Sharia được hiểu theo cách giáo điều và biểu lộ sự sẵn sàng đón tiếp các ý tưởng và liên minh mới.

Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 9

VỀ NHỮNG NGƯỜI GIÀ NUA

Ả RẬP SAUDI GIẬT DÂY,

CẢ Ở JEMEN

Nếu không có sự giúp đỡ từ bên ngoài thì Al Khalifa đã không thành công với cuộc phản cách mạng. Tầm quan trọng về địa chiến lược của Bahrain đã tạm thời bảo đảm cho sự sống còn về mặt chính trị của nó. Thủ đô Manama là căn cứ chính của Đệ ngũ hạm đội Hoa Kỳ trong vịnh Ba Tư. Ở Washington, người ta đã chuẩn bị tinh thần khi bị mất các đồng minh lâu năm ở Tunesia, Ai Cập và Jemen. Nhưng trong vùng Vịnh, chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục dựa vào những nhà quân chủ có thể tin cậy được, ngay cả khi vì vậy mà phong trào dân chủ bị chận lại hay còn bị đập tan nữa.  Họ thúc giục cải cách ở hậu trường, nhưng không thúc giục thay đổi chế độ. Từ những năm 1970, trọng tâm của những mối quan tâm Phương Tây đã dịch chuyển ngày một nhiều hơn từ Cận Đông, Israel và các quốc gia lân cận, sang hướng Vịnh Ba Tư. Lý do về một mặt là các lợi ích kinh tế, trước hết là sự an toàn cho các mỏ dầu, và mặt khác là ảnh hưởng liên tục lớn mạnh của thế lực trong vùng, Iran, mà sự tự tin đang tăng lên của nó được Phương Tây, nhưng cũng cả các quốc gia Ả Rập vùng Vịnh, xem là một mối đe dọa. Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 8

AL-JAZEERA Ở KATAR VÀ

CUỘC PHẢN CÁCH MẠNG Ở BAHRAIN

Lịch sử hiện đại của Katar bắt đầu trong năm 1766, khi nhiều phần của bộ tộc Bani Utub, tức các gia đình Al Khalifa và Al Jalahima, rời bỏ quê hương của họ và thành lập khu dân cư Zubara trong miền Đông Bắc của bán đảo Katar, ngày nay là một cánh đồng đổ nát rộng lớn. Lịch sử Katar trước khi các thị tộc nhiều quyền lực này tới đó phần lớn là không được biết tới. Sa mạc trong nội địa thời đó không có người sống, ngoại trừ một vài bộ tộc du cư thỉnh thoảng đi ngang qua đó, lúc nào cũng trên đường tìm bãi cỏ và nước uống. Dọc theo bờ biển, một vài gia đình lớn định cư trong những làng đánh cá nghèo, không hiếm lần là trên đường trốn tránh các mối hận thù giữa các bộ tộc. Ngay lúc có nguy hiểm mới, họ tiếp tục ra đi, chất của cải ít ỏi lên tàu thuyền hay lên lạc đà, chạy trốn qua biển hay qua sa mạc.

Biểu tình trên Quảng trường Ngọc trai

Biểu tình trên Quảng trường Ngọc trai

Có hai thành phố nhỏ, ngày nay không quan trọng là Fuweirat và Doha, cả hai đều nằm cạnh bờ biển phía Đông, có nhiều nhóm bộ tộc sinh sống ở đó, trong số đó là thị tộc Al Thani, triều cai trị Katar ngày nay. Người ta cho rằng họ đã di cư từ miền Trung Ả Rập đến Katar vào cuối thế kỷ 17 hay đầu thế kỷ 18 – trong một làn sóng di cư có quy mô lớn của các bộ tộc Ả Rập đi về hướng bờ biển vùng Vịnh. Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 7

LIBYA. GHADDAFI VÀ HẬU QUẢ

Lẽ ra nó đã có thể trở thành một định luật của sự lần lượt. Trong tháng 1 2011, chế độ Ben Ali bị lật đổ ở Tunesia, tiếp theo sau đó trong tháng 2 là Mubarak ở Ai Cập, trong tháng 3 Ghaddafi in Libya. Thế nhưng rất đáng tiếc là sự việc đã khác đi, Libya đã trở thành tín hiệu của cuộc phản cách mạng. Một tín hiệu mà các chế độ khác đã rút ra bài học từ đó, Ở Jemen cũng như ở Bahrain và Syria: ai còn muốn nắm quyền hay muốn kéo dài nó bằng mọi giá phải tiến hành chiến tranh chống lại người dân của mình.

Một tuần sau khi Mubarak sụp đổ, vào ngày 17 tháng 2, trong tỉnh Cyrenaika ở phía Đông, nhân dân Libya bắt đầu đứng lên chống lại người cầm quyền Muammar al-Ghaddafi. Trung tâm vào lúc đầu là thành phố biển Al-Bayda, ngay sau đó đã có những cuộc phản đối đông người tại Tobruk và Bengasi, thành phố lớn nhất trong miền Đông của đất nước. Các cuộc nổi dậy tiếp tục đi về phía Tây, đặc biệt là trong thành phố cảng Misrata và còn ở cả những vùng ngoại ô của thủ đô Tripolis nữa. Khác với ở Tunesia và Ai Cập, các lực lượng an ninh đã ngay lập tức dùng xe tăng và quân tinh nhuệ để chống lại những người biểu tình và cố gắng dùng quân đội để đập tan cuộc nổi dậy. Nhưng thay vì thế, bước leo thang đấy đã khiến cho chiến tranh bùng nổ giữa những người theo và những người chống lại chế độ Ghaddafi. Nếu như vào lúc ban đầu trông có vẻ như những người nổi dậy có thể hành quân nhanh chóng về Tripolis thì chính quyền, sau một giai đoạn bối rối và mất phương hướng ngắn, đã quyết tâm đánh trả lại một cách hết sức tàn bạo. Rõ ràng là Ghaddifi không thể chấp nhận được rằng người dân của ông ấy nổi dậy chống mình. Các bức ảnh, chụp ông ấy với cây dù trong vịnh Caddie và ngay sau đấy là lúc đọc diễn văn cho truyền hình trước hậu cảnh đổ nát được chiếu sáng không tốt mà ông ấy thường hay hét nhiều hơn là kêu gọi “Thawra! Thawra!”, tay nắm chặt lại thành nắm đấm (“Cách mạng! Cách mạng!”), là những hình tượng của một chế độ độc tài đang suy tàn và đồng thời cũng là dấu hiệu của một sự tưởng tượng về quyền tối cao có sự điên khùng đi kèm theo đấy. Nếu như tôi chìm xuống thì cả đất nước của tôi cũng chìm xuống cùng với tôi. Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 6

QUẢNG TRƯỜNG TAHRIR

CHÚNG TÔI LÀ NHÂN DÂN

Ben Ali vừa mới bị lật đổ trong Algeria thì cuộc Cách mạng Ả Rập đã diễn ra tiếp tục ở Ai Cập, như trong một hệ thống của những cái ống trao đổi thông tin với nhau. Tại sao lại ở đó? Tất nhiên cũng vì tròn 20 triệu người Ai Cập trong lứa tuổi từ 18 đến 29 đang chen lấn ra thị trường lao động, nhiều người được đào tạo tốt, với ít cơ hội – về mặt xã hội học là các “nhân tố lý tưởng của sự biến đổi”. Họ yêu cầu có việc làm và tự do, họ ghê tởm sự tham nhũng tràn lan khắp mọi nơi, và họ muốn được lắng nghe và được tôn trọng. Điều đấy cuối cùng có trong hết thảy các quốc gia Ả Rập. Tuy có sự giống nhau trong cấu trúc xã hội và chính trị, nhưng vẫn có sự khác biệt giữa các nước với nhau, những cái khác biệt gợi ý tại sao cuộc Cách mạng của Tunesia lại có thể lan sang Ai Cập – chứ ví dụ như không lan sang Algeria. Ở đấy, người dân vẫn còn bị chấn thương bởi cuộc nội chiến kéo dài nhiều năm. Gần như người Algeria nào, kể cả giới trẻ, cũng đều quen thuộc với hình ảnh xác chết trên đường phố.

Quảng trường Tahrir , tháng 2 / 2011

Quảng trường Tahrir , tháng 2 / 2011

Đọc tiếp

Những Ngày Thịnh Nộ – Chương 5

NỖI LO SỢ TRƯỚC SỰ BIẾN ĐỔI

Năm 1987, Tổng Thống Mỹ Ronald Reagan trong bài diễn văn trước Cổng Brandenburg ở Berlin đã yêu cầu nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên bang Xô viết dưới sự reo mừng của những người nghe đã được chọn lọc trước: “Ông Gorbachev, ông hãy giật sập bức tường này đi!” Khi rồi nó thật sự sụp đổ hai năm sau đấy, sự vui mừng là vô biên như người ta đã biết. Bài diễn văn to lớn âm vang ở khắp mọi nơi, nói về chiến thắng của sự tự do trước sự phi tự do. Các Chính phủ Phương Tây đã không hề sợ tốn công sức lẫn tiền bạc để giúp đỡ những nền dân chủ đang thành hình ở Đông Âu (và để cắt giảm ảnh hưởng của nước Nga kình địch, như mở rộng khối NATO về phía Đông). Chiến thắng của Chủ nghĩa Tư bản trước Chủ nghĩa Cộng sản cũng có nghĩa là “Sự chấm dứt của lịch sử”, nhà chính trị học người Mỹ Francis Fukuyama khẳng định trong quyển sách bán chạy cùng tên của ông ấy và trao cho Hoa Kỳ một “vai trò đặc biệt” trong truyền bá tư tưởng tự do và kinh tế thị trường. Nhà tư tưởng của phái Tân Bảo thủ thuộc trong số những người đồng thành lập “Dự án cho thế kỷ Mỹ mới” (Project for the New American Century) năm 1997, cái dự án đề nghị dân chủ hóa thế giới Ả Rập bằng cách can thiệp quân sự như ở Iraq năm 2003.

Chiếc chìa khóa để hiểu được sự cảm nhận hoàn toàn khác nhau về cuộc Cách Mạng ở Đông Âu năm 1989 và trong thế giới Ả Rập năm 2011 của giới chính khách Phương Tây và nhiều phần của giới công cộng ở đây [Đức/châu Âu] có lẽ là nằm ở đây. Sự chấm dứt của Chủ nghĩa Cộng sản và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết không chỉ là một chiến thắng có được một cách hòa bình trước kẻ thù truyền kiếp nhiều thập niên liền. Nó đồng thời cũng  mang lại cảm giác rằng người ta đang đứng ở bên mặt đúng của lịch sử. Trước nay lúc nào cũng làm, sống và nghĩ một cách đúng đắn. Từ bây giờ, bất cứ một chính sách quyền lực nào dù có thiển cận đến đâu đi chăng nữa cũng được mô tả như là sự thể hiện của một đạo đức cao cả hơn, của những giá trị Phương Tây, của tự do, dân chủ và nhân quyền. Sau ngày 11 tháng 9 năm 2001, khi đạo Hồi cuối cùng tiến lên trở thành hình ảnh thù địch mới, còn có thêm một điều chắc chắn nữa: phải bảo vệ những thành quả gắn liền với sự thế tục hóa và khai sáng của một xã hội đa nguyên chống lại những thủ lĩnh Hồi giáo, khủng bố, khăn trùm đầu và “giết người vì danh dự”. Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 60 other followers