Trung Quốc xây đảo nhân tạo thứ tư ở Trường Sa

Trung Quốc xây hòn đảo nhân tạo thứ tư ở biển Đông. Theo như trang dịch vụ thông tin quân sự “Jane’s”, các bức ảnh vệ tinh cho thấy hòn đảo cho tới nay là lớn nhất của những hòn đảo này.

Ở Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập) gần Trường Sa, tàu nạo vét trong vòng bốn tháng vừa qua đã tạo một hòn đảo cát dài ba ki-lô-mét và rộng cho tới 300 mét. Rạn san hô này trước đây phần lớn nằm ở dưới mặt nước. Trong những tháng vừa qua, Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo ở Johnson South Reef (Đá Gạc Ma), Cuarteron Reef (Đá Châu Viên) và Gaven Reef (Ga Ven).

Trên hình có thể nhận rõ được phi trường, đường băng, hải cảng và tường bảo vệ bờ biển. Ở phần cuối đảo phía tây nam có thể nhận ra một căn cứ quân sự nhỏ.

Fiery Cross Reef (Đá Chữ Thập): Đảo nhân tạo thứ tư của Trung Quốc ở Trường Sa.

Theo Spiegel Online: http://www.spiegel.de/wissenschaft/technik/china-baut-kuenstliche-insel-im-suedchinesischen-meer-an-spratly-islands-a-1004769.html

 

Phong cách Mỹ ( phần 2)

Ngôi nhà đồ sộ nhất của Kontum là nhà của đức giám mục. Ngôi trường dòng sát cạnh giống như một trại lính thuộc địa Pháp. Trường dòng đóng cửa, nhưng đức giám mục, Moseigneur Seitz, một người vùng Alsace nguyên thủy, nhiều râu, vẫn còn ở lại vị trí của mình. Ông còn gửi các linh mục của ông tới những ngôi làng hẻo lánh nhất của người Mọi, để ban phước và giảng giáo lý. Những nhà truyền giáo người Pháp hiểu biết Việt Cộng tốt hơn là các chuyên gia tình báo của Special Forces. Họ thường hay gặp phải các du kích đỏ và thỉnh thoảng còn bị họ bắt đi. “Tôi biết rất tốt người đối thủ của tôi, viên chính ủy chỉ huy của Việt Cộng”, đức giàm mục nói. “Ông ấy là một nhà đấu tranh lão thành, đã chiến đấu từ năm 1946 trong bí mật. Ông ấy là một người lý tưởng quên mình, gần như là một ông thánh, người ta sẽ nói như vậy nếu như ông ấy đứng bên cạnh chúng tôi. Trong tháng Bảy 1954, ngay trước lần ngưng bắn, khi trại lính Páp rút đi, lúc đó tất cả họ đã bước từ trong rừng ra, và đã thiết lập một dạng hành chánh xã hội chủ nghĩa ở Kontum trong vòng vài tuần. Thể theo Hiệp định Genève, họ được rút về miền Bắc vài tuần sau đó. Nhưng bây giờ thì họ lại có mặt ở đây. Sư đoàn Nam Việt Nam, đóng quân ở chỗ chúng tôi và miễn cưỡng lắm mới dám bước ra khỏi vùng lân cận của thành phố Kontum, đã mất tinh thần chiến đấu rất nhiều và sẽ không có khả năng giữ vững được lâu nữa, ngoại trừ người Mỹ bước vào thay thế.” Đọc tiếp

Phong cách Mỹ ( phần 1)

Việt Nam, xuân 1965

Phong cách tiến hành chiến tranh của người Mỹ là một phong cách hoàn toàn khác. Người ta không coi trọng công sự phòng thủ. Hỏa lực riêng là tất cả. Trong những trường hợp khó khăn thì dựa vào không quân, và khi hết sức tồi tệ thì những chiếc trực thăng, những chiếc chopper không thể thiếu được, sẵn sàng để chở các cố vấn Mỹ bay ra. Tôi có trải nghiệm đầu tiên của tôi với cuộc chiến tranh lần thứ nhì, với cuộc Chiến tranh Đông Dương của Mỹ, ở Kontum trên cao nguyên của Trung Kỳ, cách biên giới ba nước không xa, nơi Việt Nam, Lào và Campuchia gặp nhau. Ở lân cận thành phố Kontum nhỏ bé có một nhóm Special Forces đóng quân, dựng lên những ngôi nhà xây sẵn  và kéo hàng rào kẽm gai. Nhóm Green Berets như họ được gọi vì chiếc mũ nồi xanh, đã được đích thân Tổng thống Kennedy hỗ trợ. Đọc tiếp

Trao đổi tù binh

Hai Thon, trong mùa hè 1954

Người ta bắt đầu trao đổi tù binh ngay sau khi Hiệp định Genève được ký kết. Trong những cuộc hành quân dài, Việt Minh đã dẫn một phần của quân đội đóng ở Điện Biên Phủ về thành trì của họ tại tỉnh Thanh Hóa ở cạnh biển, nơi mà người Pháp chưa từng bao giờ có thể đứng vững ở đó trong mười năm của cuộc chiến. Hải quân Pháp về phần mình đã đưa ra một chiếc tàu đổ bộ kiểu LSM, để chở một trăm người Việt Minh bị bắt giam đến điểm gặp trong vùng đất của kẻ địch.

Những người lính Việt Minh bị bắt tạo một ấn tượng kỷ luật. Các nữ y tá Pháp, những người phải chịu đựng sóng biển nhiều nhất trên con tàu phẳng này, phản đối việc nhiều mối tình bạn đàn ông hết sức thân mật đã thành hình giữa những người Việt Nam này trong những năm dài sau hàng rào kẽm gai. Một thiếu úy cụt tay của Sư đoàn 320 nắm quyền chỉ huy. Tại lần chuyên chở đầu tiên này, đa số là người bệnh và bị thương. Người phát ngôn chính thức của nhóm là một người đàn ông trẻ tuổi gầy gò, đã hồi phục một cách đáng ngạc nhiên từ những vết bỏng napalm nặng của ông. Ông quả quyết mình là một người lính bình thường. Thật sự thì ông hẳn là một chính ủy. Ông nói trong tiếng Pháp ngập ngừng về niềm tin của mình, rằng sự thống trị của những tên thực dân mới và của những kẻ độc quyền rồi cũng sẽ sụp đổ ở Nam Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mang lại hòa bỉnh và sự công bằng cho dân tộc của ông. Trong tương lai, bất cứ một tù binh nào cũng sẵn sàng hy sinh tất cả. Bài diễn văn của người cựu sinh viên với ánh mắt cuồng tín không nổi bật bởi tính độc đáo. Mang tính bi kịch nhiều hơn là trường hợp của một người lính cụt chân theo đạo Công giáo từ tỉnh Phát Diệm. Ông ấy không muốn dính líu gì tới chủ nghĩa cộng sản. Thế như Bác Hồ đã tạo lập một mặt trận yêu nước rộng rãi mà trong đó bên cạnh người Mác-xít cũng có chỗ cho người Cơ đốc giáo. Nhìn chung thì những người tù binh trên con tàu đổ bộ này lo lắng nhiều hơn là hân hoan. Hẳn là họ tự hỏi cuộc tiếp đón bởi các cơ quan đỏ vào ngày hôm sau sẽ như thế nào. Đọc tiếp

Trận chiến cuối cùng

Hưng Yên, trong tháng Bảy 1954

Có tiếng hét lớn “Alerte” vào giữa đêm. Những chiếc xe bọc thép trinh sát và xe có xích ở bánh sau, bao bọc xung quanh vị trí của chúng tôi như một vòng tròn pháo đài xe, khai hỏa bắn tận lực. Hỏa châu chiếu sáng màn đêm. Độ một chục quả đạn pháo của Việt Minh rơi xuống gần bộ chỉ huy Pháp. Những người bị thương la to gọi y tá. Tôi cúi người xuống nấp trong cái hố cá nhân hình chữ nhật mà chiếc giường dã chiến dưới cái màn che muỗi của tôi được dựng dưới sự che chở của nó giống như một cái hòm gỗ. Cuộc bắn nhau chấm dứt bất thình lình. Những người lính bộ binh thuộc địa dọc theo con đường của Hưng Yên vừa trải qua trận đánh cuối cùng của cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Vào cùng giờ đó, các chữ ký dưới hiệp định ngưng bắn được đặt xuống. Đọc tiếp

Sau chiến bại Điện Biên Phủ

Hà Nội, trong mùa Hè 1954

Pháo đài Điện Biên Phủ đã thất thủ. Chiến bại của người Pháp ở Đông Dương đã được định đoạt. Tổng chỉ huy Navarre đã đánh cược và đã thua. Ông đã tập trung 60.000 người lính của quân đội ở tại cái thung lũng lòng chảo hoang vắng đó trong vùng sinh sống của người Thái đen. Ngôi làng Điện Biên Phủ, cho tới lúc đó chỉ là trạm trung chuyển nhỏ bé giữa vùng núi của Bắc Kỳ và đồng bằng sông Mekong của Lào, bây giờ đã nổi tiếng khắp thế giới. Người Pháp đã co cụm ở đó với ý định lôi kéo một trận tấn công vỗ mặt của quân đội Việt Minh về phía mình. Nhiều năm trời, các bộ tham mưu ở Hà Nội đã mơ được đối diện với địch thủ trên một chiến trường công khai và tiêu diệt họ ở đó. Đạo quân viễn chinh đã quá mệt mỏi với cuộc chiến du kích quân tiêu hao, cho tới mức họ chấp nhận những rủi ro thật lớn của sự cô lập trong cái thung lũng lòng chảo hoang vắng đó. Tướng Navarre đã đánh giá quá thấp người thầy giáo dạy sử nhỏ bé Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân đội Việt Minh và tính siêng năng cần mẫn của địch thủ ông. Tất cả các chuyên gia đều thề thốt rằng không thể chuyên chở đại bác bằng đường bộ xuyên rừng núi tới Điện Biên Phủ được. Việt Minh đã làm được điều đó dưới những điều kiện gian khổ không thể hình dung ra hết được, và ngay sau loạt đạn đầu tiên của những người bao vây thì công sự của phe phòng thủ đã sụp đổ, những người đã chuẩn bị nhiều lắm là cho đạn súng cối. Tướng lĩnh Pháp ở Đông Dương dường như là muốn xác nhận thêm câu nói của Clémenceau mà theo đó chiến tranh là một việc quá nghiêm trọng để mà được phép giao nó cho giới quân đội. Đọc tiếp

Vị linh mục dũng cảm (hết)

Tôi được de Lattre de Tassigny mời ăn tối. Vợ của ông đến Hà Nội, điều được đánh giá như là dấu hiệu cho tiến độ chứng bệnh của ông. Bernard con trai ông, một anh thiếu úy rất trẻ, cũng là khách mời. Vài ngày tới đây, Bernard sẽ hy sinh ở vùng núi Hòa Bình. Cũng có một đại tá người Mỹ hiện diện, to tiếng lan truyền sự lạc quan và tỏ lời khen Madame de Lattre một cách thô thiển, khiến cho vị tướng bực mình thấy rõ. De Lattre không được vui. Cuộc thử nghiệm với thủ hiến Trí đã chứng tỏ là không có lợi. Đặt một kẻ thù của nước Pháp làm thủ hiến Bắc Kỳ thì còn có thể được, nhưng khi người đàn ông này chứng tỏ mình không có khả năng đưa ra một lực lượng ủng hộ mình đáng kể, thì người ta đã đánh cược sai. Vào buổi chiều cùng ngày, Nguyễn Hữu Trí trong cơn mưa phùn quen thuộc của mùa này đã kêu gọi triệu tập một cuộc biểu tình lớn trước nhà hát. Đó là một sự kiện thật đáng để thương hại. Người địa chủ tóc bạc đó, mà gương mặt của ông tiết lộ một nguồn gốc Ấn Độ nào đó, cuối cùng cũng đã thất sủng ở viên cao ủy. Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 65 other followers