Ngô Thị Tuyển: “Với căm thù và quyết tâm thì người ta có thể làm được mọi việc”

Tôi thật ra là một phụ nữ nông dân hết sức bình thường. Khi còn trẻ, tôi được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh và có nhiệm vụ chuyên chở người bệnh và bị thương. Lúc 18 hay 20 tuổi, tôi gia nhập dân quân. Chỉ huy chúng tôi nói rằng người Mỹ sẽ càng mở rộng cuộc chiến hủy diệt ra miền Bắc khi họ bị tổn thất càng nhiều ở miền Nam. Vì vậy mà chúng tôi thành lập một đại đội dân quân trong làng của chúng tôi. Tất cả chúng tôi đều đồng lứa tuổi với nhau, khỏe mạnh và nhiệt tình – nông dân từ cùng một làng. Lúc đầu, chúng tôi đào công sự và chiến hào cho bộ đội.

Tôi còn nhớ rất rõ lần đầu tiên tham chiến. Đó là vào buổi trưa lúc hai giờ, tôi đang làm đồng thì có hai chiếc máy bay thám thính từ biển vào. Lúc đầu chúng tôi rất sợ tiếng ồn, vì chúng tôi nhìn thấy máy bay lần đầu tiên. Vào buổi tối, chúng tôi tổ chức một phiên họp toàn thể ngay lập tức. Chúng tôi chắc chắn là người Mỹ sẽ quay lại. Kế hoạch được tức tốc thực hiện ngay trong đêm đó, và cuối cùng thì tất cả đều sẵn sàng: dân quân trong làng, đội tự vệ trong các nhà máy và đoàn viên. Vào sáng ngày hôm sau, còn chưa đến tám giờ thì đã bắt đầu: các đội hình đầu tiên của máy bay Mỹ xuất hiện. Trong những ngày tiếp theo sau đó, chúng tôi phải chống lại với trên 100 cuộc tấn công. Thế nhưng do chuẩn bị tốt nên chúng tôi chỉ bị tổn thất ít, và chúng tôi bắn hạ được trên 40 chiếc chỉ riêng trong hai ngày đầu tiên.

Cầu Hàm Rồng 1972

Cầu Hàm Rồng 1972

Đọc tiếp

Smith: “Đạo quân vô hình”

Sài Gòn là một thành phố lớn đông dân. Nó có những tòa nhà đẹp, nhưng sống sau những mặt tiền này là vô số người tỵ nạn và người Hoa. Trong mỗi một quán rượu có 20 cô gái điếm ngồi, cả trên đường phố người ta cũng gặp họ ở khắp nơi. Đường phố đầy xe gắn máy và xe Jeep quân đội. Người Mỹ đi lại trong quân phục ở khắp nơi, đủ mọi người nước ngoài nữa, và ai cũng mang vũ khí. Tôi thì để vũ khí của tôi ở lại căn cứ khi tôi đi ra ngoài. Nếu như có bắn nhau thì sẽ có đủ người Nam Việt cứ đơn giản là vứt súng của họ đi; và rồi tôi có thể nhặt lấy chúng.

Tất nhiên là tôi sợ Việt Cộng. Tôi sợ, vì những cuộc tấn công luôn xuất phát từ những các ổ phục kích. Có rất nhiều bẫy. Thỉnh thoảng có những nhóm trinh sát xuất hiện, hay Việt Cộng bò ra từ những đường hầm nào đó, và rồi họ bắn hạ một người, rồi lại lui vào đường hầm của họ, và người ta không bao giờ nhìn thấy họ nữa. Chúng tôi gọi họ là “đạo quân vô hình”, chúng tôi hiếm khi nhìn thấy họ. Khi xảy ra chiến sự thì người ta chỉ nhìn thấy những tia sáng, và nếu như người ta thật sự gặp may thì sau đó người ta có thể đếm vài xác chết hay tìm thấy dấu máu.

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Tàu Hải quân Hoa Kỳ tuần tra trên sông Mekong

Đọc tiếp

Alexander Haig: “Kennedy đã lôi chúng tôi vào Việt Nam”

Alexander Haig

Alexander Haig

Tướng Alexander Haig phục vụ nhiều tháng ở Việt nam năm 1966. Sau một lần bị thương, ông trở thành trợ tá quân sự của Henry Kissinger trong National Security Council (NSC). Năm 1973, tổng thống Nixon giao cho ông nhiệm vụ thuyết phục tổng thống Thiệu của Nam Việt Nam về Hiệp định Paris.     

 Tôi ở Việt Nam 1966/67 và chiến đấu ở đó trong trận đánh lớn cuối cùng trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Chúng tôi được cử vào vùng chiến thuật C. Đó là vùng có những con đường hầm Củ Chi – “Tam giác Sắt” là tên cho vùng đất giống như cái tổ ong ở gần Sài Gòn đó. Đó là một trung tâm tiếp tế quan trọng cho Việt Cộng, Chúng tôi rất thành công ở đó, cho tới 1967 chúng tôi không thua cho tới một trận đánh. Nhưng quân địch hoạt động với các lực lượng chính của họ ở Campuchia và Lào, trong cái được gọi là lãnh thổ trung lập. Từ nơi trú ẩn đó, họ tiến hành những cuộc tấn chông chống quân đội Mỹ, gây tổn thất và rồi lại chạy trốn về phía bên kia biên giới. Đọc tiếp

Nguyễn Cao Kỳ: Thống nhất là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ

Nguyễn Cao Kỳ là thủ tướng từ 1967 tới 1967 và phó tổng thống Nam Việt Nam từ 1967 tới 1971. Sinh ra ở gần Hà Nội, ông học tại một học viện quân đội Việt Nam vào cuối những năm 40 và sang Paris từ 1951 cho tới 1954 để được đào tạo thành phi công. Sau cuộc đảo chính Diệm năm 1963, ông chỉ huy lực lượng Không quân Nam Việt Nam. Trong thời gian nhậm chức thủ tướng, ông đã phá vỡ lực lượng đối lập của Phật giáo trong đất nước với những biện pháp tàn bạo, chạy sang Hoa Kỳ năm 1975 dưới sự bảo vệ của người Mỹ và ngày nay là doanh nhân ở đó.  

 Vào cuối cuộc chiến tranh chống Pháp – sau Hiệp định Genève năm 1954 – Việt Nam bị chia ra thành miền Bắc và miền Nam. Nam Việt Nam trở thành một cái gì đó giống như tiền đồn của cuộc Chiến tranh Lạnh. Đó không phải là quyết định của nhân dân Việt Nam, đó là một thỏa thuận của các cường quốc.

Chúng tôi gọi miền Bắc là vệ tinh của Nga và họ gọi chúng tôi là bù nhìn của Mỹ. Cả hai đều không đúng: chúng tôi là những người dân tộc chủ nghĩa, là người Việt. Chúng tôi đã và đang là một nước nhỏ và nghèo. Tôi thật đau lòng khi một vài người vẫn còn nghĩ rằng chúng tôi chiến đấu cho Hoa Kỳ hay cho ai đó, nhưng không cho Việt Nam. Ngày nay, đất nước lại thống nhất. Đó là mục tiêu lịch sử của mọi người Việt. Tất nhiên là chúng tôi phải giải quyết nhiều vấn đề; có kẻ thắng và người thua. Và có nhiều điều tàn ác trong vòng 25 năm vừa qua trong người Việt, nhưng chúng tôi đã đạt tới mục tiêu của chúng tôi – thống nhất đất nước.

Đọc tiếp

Barry Zorthian: Năm năm khó khăn ở Việt Nam (1963 tới 1968)

Barry Zorthian lúc đầu làm việc cho Đài Tiếng nói Hoa Kỳ. Từ 1964 cho tới 1968 ông là người phát ngôn của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Bên cạnh chức vụ là người liên lạc với giới truyền thông, ông còn chỉ huy các chiến dịch tâm lý ở Việt Nam. Sau các hoạt động cho chính phủ, Zorthian làm việc cho Timing Corporation (“Time Magazine”).

 Tôi ở Việt Nam trong thời của Kennedy. Sau vụ ám sát Diệm đã có thay đổi về nhân sự. Trong tháng Mười Một 1963, chính phủ gởi một đội ngũ mới sang Việt Nam. Tôi là thành viên của nhóm này.

Về vụ ám sát Ngô Đình Diệm thì tôi tin rằng chính phủ của chúng tôi đã đưa ra sự đồng ý của họ – hay tốt hơn: Khi họ biết được kế hoạch đó qua đại sứ Cabot Lodge của họ thì họ không phản đối. Chúng tôi đã nói chuyện với Lodge về vụ ám sát Diệm. Cho tới tháng Sáu 1964, tôi phục vụ dưới quyền chỉ huy của ông, rồi ông trở về Hoa Kỳ để rồi một năm sau đó lại làm việc như là đại sứ ở Sài Gòn. Nhưng ông không bao giờ thừa nhận rõ ràng là đã đồng ý với vụ mưu sát.

Barry Zorthian với tướng William C. Westmoreland

Barry Zorthian với tướng William C. Westmoreland

Đọc tiếp

Peter Arnett: Kết thúc của Ngô Đình Diệm (1963)

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett đứng cạnh một chiếc A 1 Skyraider đã cháy rụi vào ngày 12 tháng Mười 1965 ở gần Biên Hòa

Peter Arnett làm việc cho hãng thông tấn Associated Press (AP) từ 1962 cho tới 1975 ở Việt Nam và qua đó là phóng viên lâu năm nhất ở tại chỗ. Các bài viết mang nhiều tính phê phán của ông thường không làm cho giới quân đội Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam hài lòng. Đối với nhiều người, ông là thông tính viên tốt nhất của Chiến tranh Việt Nam. Mới đây, ông cũng nổi tiếng qua những bài tường thuật riêng cho CNN từ Chiến tranh vùng Vịnh chống Iraq.

Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ tương đối kiêu ngạo khi tới Việt Nam. Lúc đầu, người Pháp đã thất bại ở đất nước này. Chính sách của họ, chính sách mà với nó, họ muốn tái chiếm vương quốc thuộc địa của họ sau Đệ nhị Thế chiến, đã thất bại. Họ đã thua một loạt các trận đánh lớn. Nhưng Hoa Kỳ không vì vậy mà e sợ. Các sĩ quan Mỹ mà tôi gặp vào đầu những năm sáu mươi gọi nổ lực của người Pháp là nửa vời. Lời bình của họ: “Chúng tôi đã cứu thoát người Pháp hai lần trong thế kỷ này rồi, trong Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến, và chúng tôi chắc chắn là chúng tôi có thể cứu thoát họ thêm một lần nữa. Chúng tôi đi vào đó. Chúng tôi có thể chiến thắng xung đột này.” Tức là người Mỹ không những quên bài học từ chiến bại của người Pháp. Không, họ lao vào sự việc và tin rằng: Nếu anh nhét đủ tiền vào trong đó thì anh đã thắng rồi! Vì Hoa Kỳ cho rằng họ cần phải làm tròn một nhiệm vụ trên khắp thế giới và cứu thoát nhân loại ra khỏi chủ nghĩa cộng sản. Họ thật sự tin như vậy. Và họ bước vào cuộc xung đột với niềm tin này. Họ không nhìn thấy tài tổ chức của phe cộng sản, không chú ý tới tình hình quân sự đang đi tới khủng hoảng, không cảm nhận được nhiệt tình đấu tranh của người cộng sản. Tính toán rất đơn giản: “Chủ nghĩa cộng sản là xấu xa, chúng ta chiến đấu cho một sự việc tốt hơn, tức là chúng ta sẽ chiến thắng.” Đọc tiếp

Walt Whitman Rostow: Vũ khí hạt nhân chưa từng bao giờ được đưa ra tranh luận

Năm 1961, Walt Whitman Rostow trở thành thành viên của Hội đồng An ninh Quốc gia và là giám đốc kế hoạch của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Năm 1966 ông chuyển sang bộ tham mưu của tổng thống Johnson làm cố vấn an ninh quốc gia. Nhà giáo sư kinh tế học này là một trong những nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Ông muốn ngăn chận chủ nghĩa cộng sản ở khắp nơi trên thế giới bằng cách can thiệp quân sự và giúp đỡ về kinh tế, và gọi Đông Nam Á là “cuộc đối đầu lớn cuối cùng”. Rostow là người đầu tiên ủng hộ ném bom Bắc Việt Nam và được xem là người thân cận của Johnson cho tới cuối cùng. Năm 1969, ông từ chức và kể từ đó là giáo sư ở University of Texas.

Rostow và Johnson ở cạnh một mô hình của Khe Sanh

Rostow và Johnson ở cạnh một mô hình của Khe Sanh

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 60 other followers