Category Archives: Truyện dịch – Sách dịch

Hiệp ước của Bác Hồ với viên tướng Pháp

Hải Phòng, Xuân 1946

Vịnh Hạ Long có một hình ảnh ma quái. Ngay sau khi màn sương tan bớt đi một ít, vô số những tảng đá vôi kỳ lạ xuất hiện trên biển màu xanh đậm, bất động. Một cơn mưa nhỏ, lạnh, được gọi là chachin [mưa phùn], cứ rơi xuống không ngưng. Những người lính của hạm đội đổ bộ Pháp đứng rùng mình ở cạnh lan can tàu và ngay bây giờ đã nhớ nhung cái nóng nực của Sài Gòn rồi. Ngày càng có nhiều thuyền buồm hiện ra từ sương mù. Cả gia đình sống trong những gian phòng đơn sơ trên những chiếc thuyền đó. Với những cánh buồm màu nâu sậm của chúng, các chiếc thuyền lướt đi trên nước như những con dơi. Người dân Việt trên thuyền tìm cách tiếp xúc với đạo quân xâm lược xa lạ đó. Họ ăn mặc rách rưới và mời mua vài con tôm cá. Chắc họ phải thiếu thốn ghê gớm, vì họ lao đến những phần thức ăn thừa rơi ra từ lối lên xuống tàu, còn vớt cả những lon đồ hộp rỗng lên và gom chúng lại như những vật quý giá. Qua cái nhìn đầu tiên, các ngư dân từ Hạ Long này là một dân tộc nhỏ bé hết sức thân thiện. Họ nói ríu rít không ngưng. Và khi những người lính muốn tán tỉnh các cô gái và các cô này mỉm cười đáp trả, thì người Pháp hãi hùng nhận ra rằng răng của họ đã được nhuộm đen.

Đọc tiếp

Nam Kỳ đầu 1946 (hết)

Vào sáng sớm có một cơn mưa đến bất ngờ. Độ ẩm đã được mặt trời hút lấy khi tôi đi đến thánh đường của những người Cao Đài, một tòa nhà màu vàng khổng lồ theo kiểu của một nhà thờ Pháp. Vào giờ này, rừng rậm trên sườn núi dốc của “Bà Đen” óng ánh trong màu xanh đậm. Việc bình thường hóa hẳn đã tiến xa hơn là chúng tôi dự đoán vào lúc ban đầu, vì thánh đường này đã đầy hơn nửa vào lúc làm lễ ban sáng. Giáo hoàng của giáo phái Cao Đài đã chạy trốn sang Thái Lan, nhưng phần lớn giáo sĩ của ông ấy – thuộc vào trong số đó là một hội đồng giáo chủ và nhiều giám mục – vẫn ở lại tại chỗ, không bị người Pháp gây khó dễ và đang tiến hành những nghi lễ kỳ lạ của mình trong gian chính khổng lồ, giống như một đại sảnh của thánh đường. Từ ở nơi đó, ở nơi mà trong một nhà thờ Công giáo là nơi của bệ thờ, có một con mắt khổng lồ nhìn từ một tam giác có hào quang bao quanh xuống cộng đồng tín ngưỡng. Các giáo sĩ tùy theo cấp bậc mà phủ kín người với quần áo lụa màu xanh, đỏ và vàng, những cái chấm dứt với cái mũ trùm đầu nhọn của Ku-Klux-Klan. Người theo đạo bình thường mặc quần áo màu trắng. Tiếng cầu kinh rì rầm làm cho người ta nhớ tới tiếng cầu nguyện của Kitô giáo và tiếng tụng kinh của Phật giáo. Những người theo đạo liên tục quỳ xuống và tiếng cồng chiêng vang lên không ngưng. Khói nhang bay lên đến tận con mắt huyền bí đó. Tôn giáo pha trộn kỳ lạ của Cao Đài không nhiều tuổi hơn là thế kỷ 20. Thuộc trong số các thánh của họ, những người được sùng kính đặc biệt, là Đức Phật, Khổng Tử, Giê-xu và … nhà thơ người Pháp Victor Hugo. Ở cổng vào thánh đường, các nhà tiên tri này của đạo Cao Đài được mô tả qua những bức tượng đắp nổi nhiều màu chất phác. Khách tham quan người Pháp đặc biệt buồn cười về tượng mô tả Victor Hugo, người rõ ràng vì thông điệp nhân đạo của mình như là tác giả của “Những Người Khốn Khổ” mà đã được nhận vào điện thờ các thần này. Tôi có xúc cảm nhiều nhất là ở việc cái đầu râu trong số ba người của Académicien này trông giống bức chân dung được lưu truyền lại của Karl Marx hết sức. Về cơ bản thì không có lý do gì để chế diễu cả. Những lần thành lập tôn giáo đều luôn gắn liền với những điều kỳ lạ. Đạo Cao Đài chắc chắn không phải là một hiện tượng dài lâu. Nhưng trong sự cống hiến cuồng tín của nó, trong sự tìm kiếm những mô hình xa lạ, trong hoạt động vì quốc gia của nó, trong mối liên quan nào đó, nó cũng tương tự như cái tôn giáo ý thức hệ bí mật và kiên quyết đó của những người cộng sản Việt Nam, đã giành lấy được một phần của quyền lực về cho họ ở Hà Nội, và môn đồ của nó ở đồng bằng sông Cửu Long đã ngày một nhiều hơn.

Bên trong Thánh đường của đạo Cao Đài. Hình: Wikipedia

Bên trong Thánh đường của đạo Cao Đài. Hình: Wikipedia

Đọc tiếp

Nam Kỳ đầu 1946 (phần 2)

Với những lỗ châu mai, thành lũy và tháp của nó, pháo đài cũ của Pháp ở Tây Ninh nằm – nhìn từ xa – giống như một món đồ chơi trong mặt trời về chiều. Nó xuất phát từ thời đầu của cuộc thuộc địa hóa, khi những người Pháp đầu tiên xâm chiếm ở Nam Kỳ còn phải chống lại cướp sông. Màn chống muỗi được giăng ra trên những cái giường xếp. Bóng tối đến bất chợt, và màn đêm oi bức dính da. Những người lính ăn khẩu phần của họ. Rượu vang đỏ được lấy ra từ ở đâu đó. Người ta ồn ào trong những công sự của cái pháo đài xưa cũ. Vào buổi chiều đã có một nhóm cảnh sát chính trị đặc biệt từ Sài Gòn đến, phần nhiều là người Âu Á. Họ đã hỏi cung tù binh. Đã có tra tấn trong lúc đó, như chúng tôi nghe được lúc đến pháo đài. Người ta nhúng đầu của các nghi phạm vào trong một cái thùng nước cho tới khi họ chịu cung khai. Đó được gọi là la baignoire – bồn tắm. La gégène, cực hình bằng điện nhờ vào một cái máy phát điện nhỏ, thời đó vẫn còn chưa thông dụng ở Đông Dương. Nhưng những người Á, người ta nói thế, có những biện pháp tinh xảo và đáng sợ để bắt những kẻ cứng đầu cũng phải nói. Đau khổ cho những người Âu nào còn sống mà lọt vào tay của du kích quân! Chúng tôi đã nhiều lần thấy xác chết người Pháp trôi nổi trên sông nước của Nam Kỳ mà tinh hoàn của họ bị nhét vào mồm và đã bị đóng cọc xuyên qua người bằng một cây tre. Trong khi nhóm lính làm ồn ào và đòi gái Campuchia, những nhóm tiền đồn hai người hay ba người đóng ở rìa của khu rừng. Trong sự đơn độc nguy hiểm này, sự hoang dã dường như đầy những tiếng ồn của thế giới động vật. Một con côn trùng càng nhỏ thì lại càng gây ra nhiều tiếng động. Trong lúc đó có những cái gì đó chạy vụt qua và kêu sột soạt. Một cuộc săn đuổi và giết nhau không thương xót đang diễn ra trong thiên nhiên về đêm. Chỉ có nỗi lo sợ phải xấu hổ là ngăn chận những người lính đang đóng ở bên ngoài bắn bừa vào cái thế giới xung quanh đang kêu lách cách, rì rì và ken két đó, thế giới mà người ta không nghe thấy được những người do thám của quân địch có thể đang bò tới trong sự che chở của nó.

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

Lực lượng Commando Parachutiste Ponchardier trên Rue Catinat, Sài Gòn, ngày 30 tháng 19 năm 1945

            Đọc tiếp

Nam Kỳ đầu 1946 (phần 1)

Ngay khi đoàn xe vừa rời khỏi Sài Gòn và tới những đồn điền cao su của tỉnh láng giềng ở phía tây-bắc, những dấu vết của cuộc chiến tranh du kích đã có thể nhận thấy rõ. Đường trải nhựa bị đào nát bởi những con hào sâu, những con hào mà người nông dân thường xuyên phải đào chúng vào ban đêm dưới sự chỉ huy của các chính ủy đỏ. Những cái hố đó đều đặn cho tới mức chúng được người Pháp gọi là “phím dương cầm”. Bầu trời ban mai có màu xanh vàng ở hướng Đông. Chúng tôi đi xe về hướng Tây Ninh, và chẳng mấy chốc, ở bên kia của những lá dừa và những cánh đồng lúa vô tận, chúng tôi khám phá ra một ngọn núi đen, đe dọa nhô lên từ đồng bằng bằng phẳng. Ngọn núi đó có tên là “Bà Đen”, và báo hiệu biên giới của Campuchia. Thời đó đã có ai mà đoán trước được rằng đến một ngày nào đó, các lính Mỹ sẽ ngước lên nhìn ngọn “Black Virgin” này như ngước lên nhìn một nữ thần trả thù.

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Special Forces của Mỹ chuẩn bị tấn công núi Bà Đen, 1964

Đọc tiếp

Các anh đi ngược đường rồi

Trên tàu “Andus”, cuối năm 1945

Con tàu chở lính “Andus”, 26.000 GRT, là mượn từ Hải quân Hoàng gia. Thời đấy, trong quân đội Pháp có những thứ nào đó hoạt động dựa trên vay mượn. Quốc gia này đã không hồi phục được cả về tinh thần lẫn vật chất kể từ lần chiến bại năm 1940. Thủy thủ người Anh của tàu “Andus” nhìn hơi ngạc nhiên đến những thành viên của đạo quân thuộc địa mà họ đi cùng đến Viễn Đông, và đạo quân mà rõ ràng là ở đó cần phải bù đắp lại cho sự thất bại trong nước mẹ. Cuộc chiến tranh chống Nhật Bản, cuộc chiến mà de Gaulle còn muốn vội vã chen vào, đã chấm dứt mà không có đến một đơn vị duy nhất của Pháp tham gia. Trong tầm nhìn từ “Andus” có một chiếc tàu chở lính khác với tải trọng tương đương đi theo sau. Nó treo cờ Hà Lan bên cạnh Union Jack. Quân đội thuộc địa Hà Lan đang trên đường đi đến Batavia. Trong Biển Đỏ, tàu “Andus” đã gặp cả một đoàn tàu đi theo hướng ngược lại, trở về châu Âu với lá cờ chiến thắng bay phất phới trên cột tàu. Cựu chiến binh của chiến dịch Miến Điện đứng trên boong tàu, những người đang trở về các hòn đảo quê hương của họ, về với hòa bình và đời sống hàng ngày. Qua ống nhòm, người ta có thể nhận ra được những gương mặt đỏ au vì mặt trời nhiệt đới của họ, phản chiếu ở trên đó là nỗi vui mừng không kìm chế, đã thoát khỏi những nguy hiểm của rừng rậm và của một địch thủ không nhân nhượng. Người Anh hớn hở vẫy tay chào những người lính Pháp của tàu “Andus” cũng như những người Hà Lan. Qua một cái loa, người ta có thể nghe được tiếng của một người Anh nói với giọng chế giễu: “You are going the wrong way … Các anh đi ngược đường rồi!” – “Những người Anh đấy lại muốn gì nữa đây?” một thiếu tá văn phòng mập mạp người Pháp hỏi với sự không hài lòng rõ ràng trong giọng nói.

Lính lê dương ở  Marseille đang chờ lên tàu Pasteur đi sang Đông Dương

Lính lê dương ở Marseille đang chờ lên tàu Pasteur đi sang Đông Dương

Đọc tiếp

Nỗi buồn trên Sài Gòn (hết)

Các nhân viên chính thức của sở Thông tin tháp tùng với chúng tôi đã cảnh báo. Sau khi trời tối, chúng tôi phải đề phòng móc túi, vâng với cả cướp nữa. Một nhà ngoại giao Đông Đức đã bị cướp sạch ngay giữa ban ngày. Vì thế mà chúng tôi đi giữa đường. Giao thông ô tô ít ỏi đã ngưng lại từ lâu rồi. Đứng ở tất cả các ngã tư là quân nhân hay cảnh sát với súng liên thanh kiểu AK 47. Ban đầu, chúng tôi muốn ăn tối trên một chiếc thuyền trên sông, trong nhà hàng “My Cat” [Mỹ Cảnh], nhà hàng mà trong chiến tranh đã bị người nhái Việt Cộng cho nổ tung một lần. Lúc đó đã có nhiều người chết và bị thương trong số thực khách người Mỹ và các cô gái Việt của họ. Nhưng “My Cat”, trước đây chủ yếu là do người Hoa điều hành, đã bị quốc hữu hóa ngay từ ngày đó. Vì vậy mà chúng tôi tìm đến quán ăn tư nhân cuối cùng, quán ăn Pháp cuối cùng của Thành phố Hồ Chí Minh. Nó có tên là “Valenco”, và chủ nhân của nó, một người Corse độ năm mươi tuổi có tên là Dominique, là một khái niệm cho mỗi một phóng viên chiến trường. Liệu ông có phải là một người còn sót lại của nhóm mafia người Corse đó hay không, nhóm mafia mà vào thời người Pháp dường như đã thống trị nhiều ngành nghề ở Sài Gòn, điều này thì không ai có thể chứng minh được. Thật ra thì những người Corse làm giàu qua mua bán tiền đồng đó chỉ là những con cá nhỏ ở bên cạnh dân đầu cơ và trùm tài chính giật dây từ trong thành phố song sinh với Sài Gòn, trong Chợ Lớn.

Sài Gòn1985 - Ngã tư Nguyễn Huệ-Ngô Đức Kế. Hình: Philip Jones Griffiths

Sài Gòn1985 – Ngã tư Nguyễn Huệ-Ngô Đức Kế. Hình: Philip Jones Griffiths

            Đọc tiếp

Nỗi buồn trên Sài Gòn (phần 1)

Cái chết trên ruộng lúa

Cái chết trên ruộng lúa

Peter Scholl-Latour sinh năm 1924 ở Bochum, Đức. Năm 1945/46 ông phục vụ trong Commando Parachutiste Ponchardie, một đơn vị nhảy dù của Pháp, đã tham chiến ở Đông Dương. Sau đó, ông học đại học và kết thúc với bằng tiến sĩ tại các trường Đại học Mainz ở Đức, Đại học Sorbonne ở Paris và Université Saint-Joseph tại Beirut. Ông là người thành lập (năm 1963) và là giám đốc studio ở Paris của đài truyền hình nhà nước Đức ARD (cho tới 1969), sau đó là sếp thông tín viên của đài truyền hình nhà nước Đức ZDF (cho tới 1983). Từ Paris, Scholl-Latour thường xuyên sang Việt Nam dưới tư cách là thông tín viên đặc biệt, từng bị Việt Cộng bắt tạm giam một tuần năm 1973. Ông sang Việt Nam thêm một lần nữa vào năm 1976, sang Campuchia năm 1980, Trung Quốc và Afghanistan năm 1981. Bắt đầu từ  năm 1983, ông chuyển sang hoạt động trong giới truyền thông in, là tổng biên tập và nhà xuất bản tuần báo stern, và từ 1988 là tác giả tự do. 

Mưa rơi không ngưng từ sáng sớm. Tầm nhìn xuống sông Sài Gòn bị che phủ bởi một màn ẩm ướt hôi mốc. Chỉ có vài chiếc tàu chở hàng có tải trọng thấp và không được bảo trì tốt là đang đậu lại ở bến tàu, ở nơi mà chiếc tàu bệnh viện “Helgoland” đã kín đáo giương cao lá cờ Đức trong chiến tranh và tuyên bố tình đoàn kết với người Mỹ, một tình đoàn kết mà ngày càng trở nên dè dặt hơn trong diễn tiến của sự thay đổi ý kiến chung. Những ánh đèn ít ỏi đầu tiên được bật lên và phản chiếu trên nhựa đường ướt nước của Rue Catinat. Con đường mua sắm sang trọng của Sài Gòn có tên là như thế dưới thời của người Pháp, trước khi nó trở thành khu quán rượu và nhà chứa của người Mỹ dưới tên “đường Tự Do”. Bây giờ, nó được những người chiến thắng đỏ từ miền Bắc đổi tên thành “Đồng Khởi”, “lần nổi dậy của nhân dân”, và người miền Nam tự hỏi rằng không biết đó là lần nổi dậy nào của nhân dân.

Đọc tiếp

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 61 other followers