Người Mỹ thật sự có ý gì với tính thân thiện của họ

Về những môn thể thao quần chúng phổ biến như bóng bầu dục ở Hoa Kỳ hay bóng đá trong phần còn lại của thế giới, người ta nói rằng chúng là những trận đánh nhau trong đấu trường La Mã hiện đại. Như là cái thay thế cho những sự hung hãn không được trải nghiệm qua, những cuộc thi đấu như thế được cho rằng đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm vệ sinh cho tâm hồn của con người hiện đại.

Có thể đúng, nhưng người ta cũng có thể bay một chuyến dosmetic flight cho chính việc đấy. Vì Hoa Kỳ là một đất nước bao la nên người ta không thể vượt qua được phần lớn những khoảng cách bằng ô tô, tàu hỏa hay xe buýt một cách hợp lý. Quy tắc đại thể: khoảng cách giữa 2 thành phố mà người Âu chúng ta đã từng có lần nghe tên của chúng là đã đủ xa cho một chuyến bay. Vừa đủ làm trường hợp ngoại lệ là New York – Philadelphia hay Los Angeles – San Diego. Không thể nào mô tả những gì diễn ra trên các chuyến bay nội địa đấy khác hơn là một cuộc đấu tranh Darwin thuộc loại cực kỳ ác liệt.

Vấn đề có tên là hành lý xách tay. Vì chẳng ai thích thú chờ 40 phút sau khi đáp xuống, cho đến khi cuối cùng rồi cái va ly cũng lạc xuống băng tải của baggage claim, nên hành khách sử dụng đến mức tối đa hành lý được phép mang theo lên máy bay, nhiều như họ có thể. Một cái va ly có bánh xe loại vừa với một chiếc va ly thứ hai được thắt chặt ở phía trên, được ngụy trang như một chiếc cặp đựng hồ sơ, thêm vào đó tất nhiên là áo khoác, áo bành tô, một túi đựng báo chí và có lẽ còn một cái máy tính xách tay choàng qua người. Tất nhiên là những ngăn hành lý xách tay ở phía trên của chỗ ngồi không đủ lớn để chứa được phân nửa số đồ đạc của cả một căn hộ của từng người một đấy. Và ai không thể sắp xếp chỗ cho đồ đạc của mình thì sẽ bị hai lựa chọn khác đe dọa: người đấy phải đẩy tất cả chúng vào dưới ghế ngồi ở phía trước, cái làm giảm đi chỗ trống ở dưới chân mà trước sau gì thì cũng không tồn tại. Hay hành lý của người đấy được gửi đi từ trong máy bay, việc giống như một sự sỉ nhục và mang lại cảm giác như đã thất trận.

Cuộc tranh giành overhead bin được tiến hành với những mưu mẹo bẩn thỉu nhất. Có những người nhét ngay hành lý của họ vào ngăn trống đầu tiên, ngay khi chỗ của họ còn tít ở phía sau của máy bay. Những người khác cứ làm tắc nghẽn lối đi mãi vì họ cứ cố bằng mọi cách quẳng cho được kiện hành lý đồ sộ vào trong ngăn chứa. Không có sự tôn trọng người cùng cạnh tranh. Khi phải cùng nhìn một người đến sau nhét hành lý cồng kềnh của ông ấy vào chỗ đồ đạc tất nhiên bao giờ cũng eo hẹp của tôi, tôi thường hay nghe chiếc máy tính của tôi thật sự đã kêu lên răn rắc, chiếc áo khoác lông chim của tôi bị xé toạc ra. Trong khoảng khắc ấy, người ta cho rằng có thể cảm nhận được rằng người Mỹ là một dân tộc đã chinh phục được một nửa châu lục với những biện pháp không mấy gì mềm dẻo cho lắm.

Chủ nghĩa Darwin trong cuộc sống hằng ngày cũng có ở những đất nước khác. Ở Hoa Kỳ, nó đặc biệt đập vào mắt, vì nó đứng đối ngịch với sự tôn trọng và lịch sự mà ngoài ra thì lúc nào cũng hiện diện. Ngay khi nghe có vẻ nhàm một ít: người Mỹ là một dân tộc hết sức thân thiện. Giọng nói giao tiếp bình thường là thân mật, cởi mở và tiến tới. Họ tự giới thiệu mình, họ giới thiệu những người khác, họ đặt câu hỏi. Và họ tạm biệt với một “Nice meeting you”, ngay cả khi về cơ bản người ta không đi xa hơn một cái bắt tay. Tính tò mò vô thưởng vô phạt của họ lúc nào cũng có mặt, và họ thường hay bắt đầu một small talk bằng cách duyên dáng nhất: với một lời khen. Bà ngồi quầy tính tiền trong siêu thị khen ngợi chiếc áo thun polo in hoa của tôi, người đạp xe đạp cạnh bên khen màu cam chiếc mountainbike của tôi, bà môi giới bất động sản khen tên của tôi. Phải là một người rất sắt đá, nếu như những cái đấy không làm cho người ta vui lên một chút. Và sau một thời gian thì chính người ta cũng phát triển cái tài năng đấy, đầu tiên và về cơ bản là tìm thấy ở những người khác một cái gì đó tuyệt vời. Và cũng nói ra điều đó. Và về cảm nhận riêng của mình (xem chương đầu) thì chỉ trong những trường hợp ngoại lệ người ta mới tìm đến tính thẳng thắn đã quen thuộc của người Đức, khi người ta phán xét về sách, món ăn, phim hay chính trị gia. Những thang bậc khen ngợi tinh vi là đã đủ một cách rõ ràng cho người Mỹ. Có thể dùng những từ ngữ sau đây để tăng sự đồng ý của mình, trong đó, hai diễn đạt đầu tiên chỉ vừa nằm trên nhiệt độ đóng băng: not bad / okay, I guess / great / fantastic / awesome / amazing / I love it. Lời khen ngợi tôi thích nhất, tìm thấy trên trang thư bạn đọc của tờ “New York Times”: My hands are tired from applauding. Cho tới nay tôi vẫn không thể nói câu đó mà không ngoác miệng cười mỉa mai. Nhưng mà tôi vẫn còn đang bắt đầu trở thành người Mỹ thôi.

Mỗi lần tôi viết thư điện tử ở đây vì lý do nghề nghiệp, tôi thật sự bắt buộc mình phải dùng một giọng hào hứng đúng mức. Khi có một cái gì đó để ca ngợi (và ngay cả khi người ta chỉ nói chuyện ngắn qua điện thoại trước đó với người đấy), tất nhiên là phải làm việc đó và dùng những lời lẽ thân thiện để chào đón triển vọng của những lần trao đổi tiếp tục theo sau đấy. Khi nào tôi cảm thấy bức thư điện tử gần như là cường điệu đến mức ngớ ngẩn thì tôi mới chắc rằng đã tìm thấy giọng nói tương đối đúng.

Người Mỹ chỉ chấp nhận một sự chạm trán trực tiếp trong những trường hợp ngoại lệ, và ngay lúc đấy họ cũng ngụy trang cho những lần công kích của họ. “He’s a great guy”, một chính trị gia bắt đầu một cuộc độc thoại mà ông ấy dấu cú huých hủy diệt đối thủ mình ở trong đấy như thế đó, “I totally appreciate that but …” là một bắt đầu thường gặp cũng như mang đầy tai hại. Đối với tôi, lần dọn sang Hoa Kỳ sinh sống cũng là một cuộc tự thử nghiệm thú vị về cung cách thảo luận và giải quyết xung đột. Tôi coi thường những quy định, rằng người ta không được phép nói về những đề tài nhất định (chính trị, tôn giáo, tình dục). Tuy vậy, người ta nói chuyện đó như thế nào không phải là hoàn toàn không quan trọng. Với tính kiên quyết đã trở nên được yêu thích của người Đức, người ta bị bật lại từ một bức tường mềm mại của sự thân thiện. Lúc nhà xuất bản Mỹ đưa cho tôi xem trang bìa quyển sách đầu tiên của tôi, tôi thất kinh. Sau khi tôi phản đối một cách mềm mỏng, người nữ biên tập  hứa hẹn những lựa chọn khác. Chúng đến 2 tuần sau đấy – và trông giống hệt như lần đầu. Thông điệp thật ra đã rõ ràng: tôi không nên can thiệp vào những việc không phải là của tôi. Người Đức trong tôi muốn chộp lấy chiếc điện thoại và kêu nài. Người Mỹ trong tôi làm việc cả một cuối tuần cho những phác thảo lựa chọn khác, những cái mà tôi gửi qua thư điện tử đến nhà xuất bản vào ngày thứ hai, với lời chú thích rằng tất nhiên đấy chỉ là những đề nghị thôi và tôi sẽ chấp nhận bất kỳ một quyết định nào. Sau đấy, tôi rất mừng vì mình đã cố không nói toạc ra: tôi đã nhận được ý muốn của tôi, vì tất cả mọi người đã giữ được thể diện của mình.

Đấy cũng chính là vấn đề trong những tình huống thông thường hơn. Hoa Kỳ là một xã hội có yêu cầu cao về tài khéo léo trong cuộc đấu tranh sinh tồn. Có nhiều lúc người Mỹ không thể quên bản thân mình và quan tâm đến người khác. Nhưng họ khoác những từ ngữ thân thiện hơn lên sự chen lấn nhau hết sức bình thường giữa người với người, điều làm cho cuộc sống hằng ngày trở nên mềm mại hơn. Ngoài ra, ở nhiều diễn đạt trước sau gì thì tất cả các bên điều hiểu rõ rằng chúng thật ra có ý gì.

Mười một câu nói thường ngày và ý nghĩa thật sự của chúng

1. “Sorry”: Tôi muốn đi ngang qua! Hay: tôi đã dẫm phải chân của bạn, nhưng thật ra thì tôi mặc kệ chuyện đó.

2. “Excuse me”: Làm ơn mau mau tránh chỗ đi nào!

3. “Take your time”: Nhanh nhanh lên!

4. “Whenever you are ready”: Hãy trả tiền ngay và rời bàn đi!

5. “Can’t wait to see you”: Sẽ gặp nhau lúc nào đấy thôi.

6. “Nice meeting you”: Chào nhé!

7. “Let’s have lunch soon”: Nếu chúng ta gặp nhau lần sau thì chắc tôi sẽ không nhận ra bạn.

8. “Call me”: Đừng gọi điện cho tôi.

9. “No offense”: Tôi vừa lăng mạ bạn nhưng không muốn bạn hiểu đấy là một sự lăng mạ

10. “… and I respect that”: Tôi hoàn toàn có ý khác với người đối diện/người nói.

11. “I’m not judging”: Người ta không nên phát xét về người khác nhưng tôi sẽ làm chính việc đấy ngay bây giờ.

Cả cung cách có vẻ như rộng rãi của người Mỹ, mời người không quen biết về nhà, cũng phải được xem xét cẩn thận trong từng trường hợp một. Trong một buổi ăn tối, nữ giám đốc một bệnh viện thẩm mỹ ở New York thuật lại cho tôi rằng bà ấy đã gặp một đôi vợ chồng kiến trúc sư từ Cologne, trẻ tuổi hơn rất nhiều, ở chỗ của người quen và đã mời họ đi trượt tuyết tại Sun Valley. “Họ thật sự đã đến”, bà ấy vẫn còn cười kinh ngạc về sau này. Trong trường hợp này thì một tình bạn đã phát sinh ra từ đấy, nhưng người ta có thể nghe thấy rõ rằng trong những việc như thế thì đừng nên hiểu theo nghĩa đen ở Mỹ là hơn. “Các bạn nhất định phải đến thăm chúng tôi tại nhà của chúng tôi trong Hamptons” thật ra chỉ có nghĩa là: “Chúng tôi có một căn nhà trong Hamptons, và chúng tôi thấy các bạn thật đáng mến.” Trong bất kỳ trường hợp nào người ta cũng không nên tự phát đi đến Long Island vào cuối tuần và báo trước ngắn gọn trong lúc đang trên đường đi tới đó. Chỉ khi lời mời lập lại và kết hợp với việc trao đổi tìm thời điểm cụ thể thì người ta mới khởi hành đi đến.

Lần đầu tiên được mời đến, tôi không nghĩ điều gì tệ hết, ngay cả khi chủ nhà chỉ là những người mới quen sơ, bề ngoài trông như có một phong cách sống thoải mái trong lần chúng tôi gặp nhau ở New York. Nhưng con người biểu lộ gương mặt thật của họ trước hết là khi người ta đến nhà của họ. Ngay cái tin nhắn vào buổi sáng đầu tiên thật ra đã phải cảnh báo cho tôi biết trước rồi. Tôi vừa mới rời nhà có 10 phút, khi người ta thông báo qua tin nhắn cho tôi biết rằng lon Cola mà tôi vừa mới ném vào thùng rác trước đó thật ra là phải được rửa cho sạch và chất vào một thùng carton đặc biệt. Là người Đức, tôi phục tùng và cởi mở trước bất kỳ một cách thức phân loại rác nào, nhưng giọng nói thô bạo vẫn làm cho tôi ngạc nhiên. Cả cái cuối tuần đều mang dấu ấn của những tín hiệu cảnh báo có liều lượng chính xác ở mức để cho người ta không muốn phản đối, nhưng vẫn có cảm giác luôn luôn bị quan sát và bị dạy đời. Cuối cùng, tôi không còn biết là có được phép đặt hộp kem chống nắng ở bên cạnh chiếc ghế bố hay là không. Tôi nghe từ bạn bè rằng hiện những người mới đến được nhét vào tay một tờ giấy ghi những quy định trật tự trong nhà. Phải mở cửa phòng ngủ vào ban ngày. Mỗi một người khách chỉ được phép đặt một quyển sách trên bàn ngủ của mình. Không được phép để khăn lau ngay cả quanh hồ bơi. Rất đáng tiếc là tôi đã quên mất những lời hướng dẫn chính xác về phân loại rác. Vì ngay ở Hoa Kỳ cũng thế: không phải tất cả những gì có thể có mà không mất tiền thì người ta cũng nhất định phải có.

Nhưng đấy là trường hợp ngoại lệ của quy tắc rằng là người Đức thì người ta sẽ học ở Mỹ một khóa học cơ bản về tính mềm dẻo trong xã hội. Tất nhiên là chỉ khi người ta muốn. Trong ngôi nhà ở East Village trong New York, nơi chúng tôi sống từ 3 năm nay, có rất nhiều phiên bản của cuộc đời: một đôi vợ chồng già ngay cạnh bên, một nghệ nhân người Ý ở chếch phía trên chúng tôi, một phụ nữ Đức chủ nhân một phòng tranh ở tầng bốn, một gia đình người Nhật với hai đứa con nhỏ, chơi đấu kiếm laser trong tiền sảnh vào những ngày trời mưa. Cứ hai người thuê nhà thì một người có ít nhất là một con chó, và chúng tôi chỉ mất trộm ra trải giường trong máy sấy có một lần duy nhất. Tức là chúng tôi có quan hệ với nhau rất tốt. Cho tới một ngày nào đó, một bức thư ngỏ được treo trên tấm bảng đối diện với những hộp thư. Một người thuê nhà ở tầng trệt phàn nàn rằng cửa ra vườn bao giờ cũng được đóng lại quá ầm ĩ. Ông ấy làm việc trong căn hộ của ông ấy, và với nếu tôn trọng nhau một chút thì hẳn cũng có thể làm cho nó nhỏ hơn. “Thêm một người Đức nữa ở trong nhà này” là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Vì không phải chính lời phàn nàn mà là giọng nói đã ngay lập tức đánh thức dậy những tình cảm quê hương thuộc loại không được dễ chịu cho lắm: sự trộn lẫn giữa lời yêu cầu cá nhân (cũng có thể hiểu được) với sự răn dạy mà mình tự cho là đúng. Tôi hồi hộp xem những người thuê nhà khác sẽ phản ứng như thế nào. Câu trả lời rất Mỹ. Không một ai muốn cãi nhau công khai cả, nhưng theo như tôi quan sát được thì từ lúc có thông báo đấy, cánh cửa ra vườn dập vào còn to thêm một chút nữa.

Adriano Sack

Phan Ba dịch

About these ads

Tagged: , , , ,

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 59 other followers

%d bloggers like this: